Biển và hải đảo Việt Nam
Saturday, February 25, 2012 7:36 PM GMT+7
Vnesea.net: Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là “Thế kỷ của đại dương”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương.

Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.

Việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Cuốn “Biển và hải đảo Việt Nam” do Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn nhằm cung cấp những nội dung cơ bản về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tra cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản về biển và Luật biển của Báo cáo viên cùng bạn đọc về các tư liệu, tài liệu về biển đảo Việt Nam và quốc tế. Sách được xuất bản tại Hà Nội, năm 2007.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số phần trong cuốn sách này.

 

Phần I. Các văn bản của Đảng và Nhà nước

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC PHÊ CHUẨN CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Theo đề nghị của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982,

QUYẾT NGHỊ:

1. Phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.

3. Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

4. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Quốc hội nhấn mạnh: cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

5. Quốc hội giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam.

Quốc hội giao cho Chính phủ thi hành những biện pháp có hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ và quản lý các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nông Đức Mạnh

————————-

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994.

 

TUYÊN BỐ

CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ LÃNH HẢI, VÙNG TIẾP GIÁP, VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ VÀ THỀM LỤC ĐỊA CỦA VIỆT NAM.

Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y,

Tuyên bố quy định các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

1. Lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất trở ra.

Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thuỷ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

2. Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

3. Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

4. Thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.

5. Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải nói ở Điều 1 có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong các điều 1, 2, 3, và 4 của Tuyên bố này.

6. Xuất phát từ các nguyên tắc của Tuyên bố này, các vấn đề cụ thể liên quan tới lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được quy định chi tiết thêm trên cơ sở bảo vệ chủ quyền và lợi ích của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.

7. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 1977

 

TUYÊN BỐ

CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ DÙNG ĐỂ TÍNH CHIỀU RỘNG LÃNH HẢI VIỆT NAM

 

Thực hiện Điểm 1 trong Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y.

Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam như sau:

1. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục kèm theo Tuyên bố này.

2. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam từ điểm tiếp giáp 0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia nằm giữa biển, trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai, đến đảo Cồn Cỏ theo các tọa độ ghi trong phụ lục nói trên được vạch trên các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1979.

3. Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh đã được quy định trong Công ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc do Pháp và nhà Thanh ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

Phần vịnh thuộc phía Việt Nam là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thuỷ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được công bố sau khi vấn đề cửa vịnh được giải quyết.

4. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được quy định cụ thể trong một văn kiện tiếp theo phù hợp với Điểm 5 của bản Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5. Vùng nước phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển, hải đảo của Việt Nam là nội thuỷ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề bất đồng về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 1982

 

LUẬT BIÊN GIỚI QUỐC GIA NĂM 2003

Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh đất nước.

Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về biên giới quốc gia.

Chương I

Những quy định chung

Điều 1.

Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 2.

Luật này quy định về biên giới quốc gia; chế độ pháp lý về biên giới quốc gia; xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và khu vực biên giới.

Chế độ pháp lý quy chế quản lý và bảo vệ vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do pháp luật Việt Nam quy định phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 3.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân) có trách nhiệm chấp hành các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 4.

Trong luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thuỷ triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định công bố.

2. Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng mười hai hải lý.

3. Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng hai trăm hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác.

4. Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc gia ven bờ có chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác.

5. Mốc quốc giới là dấu hiệu bằng vật thể dùng để đánh dấu đường biên giới quốc gia trên đất liền.

6. Công trình biên giới là công trình được xây dựng để cố định đường biên giới quốc gia, công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

7. Cửa khẩu là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu và qua lại biên giới quốc gia bao gồm cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt, cửa khẩu đường thuỷ nội địa, cửa khẩu đường hàng hải và cửa khẩu đường hàng không.

8. Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền, và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.

9. Đi qua không gây hại trong lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không làm phương hại đến hoà bình, an ninh, trật tự, môi trường sinh thái của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

10. Tàu bay là phương tiện hoạt động trên không gồm máy bay, tàu lượn, khí cầu và những phương tiện khác.

Điều 5.

1. Biên giới quốc gia được xác định bằng điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập do pháp luật Việt Nam quy định.

2. Biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới.

3. Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

4. Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất.

Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

5. Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời.

Điều 6.

Khu vực biên giới bao gồm:

1. Khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền;

2. Khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo;

3. Khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng 10 km tính từ biên giới quốc gia trở vào.

Điều 7.

Nội thuỷ của Việt Nam bao gồm:

1. Các vùng nước phía trong đường cơ sở;

2. Vùng nước cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng.

Điều 8.

Vùng nước lịch sử là vùng nước do những điều kiện địa lý đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, hoặc của Việt Nam và các quốc gia cùng có quá trình quản lý, khai thác, sử dụng lâu đời được Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan thoả thuận sử dụng theo một quy chế đặc biệt bằng việc ký kết điều ước quốc tế.

Điều 9.

Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo.

Điều 10.

Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước và nhân dân thực hiện kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Điều 11.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị ổn định lâu dài với các nước láng giềng; giải quyết các vấn đề biên giới quốc gia thông qua đàm phán trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau.

Điều 12.

Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân khu vực biên giới; xây dựng công trình biên giới và xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách đáp ứng yêu cầu xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong mọi tình huống.

Điều 13.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, động viên nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về biên giới quốc gia; giám sát việc thực hiện pháp luật về biên giới quốc gia của tổ chức, cá nhân.

Điều 14.

Các hành vi bị nghiêm cấm:

1. Xê dịch, phá hoại mốc quốc giới; làm sai lệch; chệch hướng đi của đường biên giới quốc gia; làm đổi dòng chảy tự nhiên của sông, suối biên giới; gây hư hại mốc quốc giới;

2. Phá hoại an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, xâm canh, xâm cư ở khu vực biên giới; phá hoại công trình biên giới;

3. Làm cạn kiệt nguồn nước, gây ngập úng, gây ô nhiễm môi trường, xâm phạm tài nguyên thiên nhiên và lợi ích quốc gia;

4. Qua lại trái phép biên giới quốc gia; buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ, vũ khí, ma tuý, chất nguy hiểm về cháy, nổ qua biên giới quốc gia; vận chuyển qua biên giới quốc gia văn hoá phẩm độc hại và các loại hàng hoá khác mà Nhà nước cấm nhập khẩu, xuất khẩu;

5. Bay vào khu vực cấm bay; bắn, phóng, thả, đưa qua biên giới quốc gia trên không phương tiện bay, vật thể, các chất gây hại hoặc có nguy cơ gây hại cho quốc phòng, an ninh, kinh tế, sức khoẻ của nhân dân, môi trường, an toàn hàng không và trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới;

6. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia.

Chương II

Chế độ pháp lý về biên giới quốc gia, khu vực biên giới

Điều 15.

1. Việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia được thực hiện tại cửa khẩu; việc quá cảnh qua biên giới vào lãnh thổ đất liền, vùng biển, vùng trời phải tuân thủ quy định đi theo các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường hàng hải, đường hàng không; việc qua lại biên giới của nhân dân trong khu vực biên giới được thực hiện tại cửa khẩu hoặc nơi mở ra cho qua lại biên giới.

2. Người, phương tiện, hàng hoá qua lại biên giới quốc gia phải có đầy đủ giấy tờ hợp pháp và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 16.

1. Việc mở cửa khẩu và nơi mở ra cho qua lại biên giới, nâng cấp cửa khẩu, đóng cửa khẩu, xác định các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường hàng hải, đường hàng không dùng cho việc quá cảnh do Chính phủ quyết định theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

2. Việc ra, vào cửa khẩu, tạm trú và các hoạt động khác ở khu vực cửa khẩu phải tuân theo quy định của pháp luật.

Điều 17.

1. Khu vực kiểm soát được thiết lập tại cửa khẩu để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định cơ quan chủ trì phối hợp để quản lý và giữ gìn an ninh, trật tự tại khu vực cửa khẩu.

Điều 18.

Tàu thuyền nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác phải đi nổi và treo cờ quốc tịch.

Điều 19.

1. Tàu thuyền nước ngoài có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu thuyền chuyên chở chất phóng xạ, chất nguy hiểm độc hại khác khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam phải mang đầy đủ các tài liệu áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

2. Tàu thuyền quy định tại khoản 1 Điều này khi tiến hành các hoạt động khác trong lãnh hải Việt Nam phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép và áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Điều 20.

Tàu bay chỉ bay qua biên giới quốc gia và vùng trời Việt Nam sau khi được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép, phải tuân thủ sự điều hành, kiểm soát và hướng dẫn của cơ quan quản lý bay Việt Nam, tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 21.

1. Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, lý do đặc biệt khác hoặc theo đề nghị của nước hữu quan, người, phương tiện, hàng hoá có thể bị hạn chế hoặc tạm ngừng qua lại biên giới quốc gia, kể cả việc đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam.

2. Thẩm quyền quyết định việc hạn chế, tạm ngừng quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định. Quyết định về việc hạn chế, tạm ngừng phải được thông báo cho chính quyền địa phương và nhà chức trách của nước hữu quan biết.

Điều 22.

Trong trường hợp xảy ra tai nạn, sự cố hoặc vì lý do khách quan khác buộc phải qua biên giới quốc gia mà không thể tuân theo các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam thì người điều khiển phương tiện phải thông báo ngay với cảng vụ, cơ quan cứu hộ và cứu nạn quốc gia, cơ quan quản lý bay hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam nơi gần nhất và thực hiện theo sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 23.

Dự án xây dựng ở khu vực biên giới có liên quan đến biên giới quốc gia phải tuân thủ quy hoạch và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; khi thực hiện phải tuân theo quy chế khu vực biên giới, các quy định khác của pháp luật và không được cản trở việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Điều 24.

1. Mọi hoạt động có liên quan đến biên giới quốc gia tại khu du lịch, dịch vụ, thương mại, khu kinh tế cửa khẩu và các khu kinh tế khác trong khu vực biên giới phải tuân theo quy chế khu vực biên giới.

2. Quy chế khu vực biên giới do Chính phủ quy định.

Chương III

Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới

Điều 25.

Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân định cư ở khu vực biên giới.

Điều 26.

Hàng năm, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình lập kế hoạch đầu tư xây dựng các dự án phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng, điều chỉnh dân cư khu vực biên giới, công trình biên giới trình Chính phủ quyết định.

Điều 27.

Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng công trình biên giới, mốc quốc giới để quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Điều 28.

1. Nhà nước xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh để quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

2. Ngày 3 tháng 3 hàng năm là “Ngày Biên phòng toàn dân”.

Điều 29.

1. Biên giới quốc gia, hệ thống mốc quốc giới, công trình biên giới phải được giữ gìn, quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt.

2. Người phát hiện mốc giới bị hư hại, bị mất, bị sai lệch vị trí làm chệch hướng đi của đường biên giới quốc gia hoặc công trình biên giới bị hư hại phải báo ngay cho Bộ đội biên phòng hoặc chính quyền địa phương, cơ quan nơi gần nhất.

Điều 30.

1. Việc khôi phục, sửa chữa mốc quốc giới phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết.

2. Việc giải quyết vụ việc xảy ra liên quan đến biên giới phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 31:

1. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là nhiệm vụ của Nhà nước và của toàn dân, trước hết là của chính quyền, nhân dân khu vực biên giới và các lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật.

Nhà nước xây dựng Bộ đội biên phòng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững mạnh về chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ.

Điều 32.

Các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật, phương tiện chuyên dùng theo quy định của pháp luật.

Điều 33.

1. Nhà nước có chính sách, chế độ ưu đãi đối với người trực tiếp và người được huy động làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

2. Người được cơ quan có thẩm quyền huy động tham gia bảo vệ biên giới quốc gia mà hy sinh, bị thương, bị tổn hại về sức khoẻ thì được hưởng chính sách, chế độ như đối với dân quân, tự vệ tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

3. Tổ chức, cá nhân có phương tiện, tài sản được cơ quan có thẩm quyền huy động trong trường hợp cấp thiết để tham gia bảo vệ biên giới quốc gia bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 34.

1. Hàng năm, Nhà nước dành ngân sách thích đáng bảo đảm cho hoạt động xây dựng, quản lý bảo vệ biên giới quốc gia.

2. Nguồn tài chính bảo đảm cho việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia bao gồm:

a) Ngân sách nhà nước cấp;

b) Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định cụ thể chế độ quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Chương IV

Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia

Điều 35.

Nội dung quản lý nhà nước về biên giới quốc gia bao gồm:

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách về biên giới quốc gia;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về biên giới quốc gia, chính sách, chế độ về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

3. Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế về biên giới quốc gia;

4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biên giới quốc gia;

5. Quyết định xây dựng công trình biên giới, công trình kinh tế – xã hội ở khu vực biên giới;

6. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;

7. Xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;

8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia;

9. Hợp tác quốc tế trong việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Điều 36.

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có biên giới quốc gia thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia.

2. Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia.

Điều 37.

Uỷ ban nhân dân các cấp nơi có biên giới quốc gia thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Chương V

Khen thưởng và xử lý vi phạm

Điều 38.

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 39.

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương VI

Điều khoản thi hành

Điều 40.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 41.

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Văn An

_________________

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003.

 

Phần II. Biển trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, truyền thuyết về Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển nói lên rằng: từ xa xưa tổ tiên ta không chỉ gắn bó với đất liền mà còn gắn bó với biển khơi. Đó là tư duy sơ khai về quá trình chinh phục biển của người Việt cổ. Hình thuyền khắc trên trống đồng Đông Sơn khẳng định từ lâu dân tộc ta đã gắn bó với sông nước, lấy thuyền làm phương tiện làm ăn sinh sống. Quan tài hình thuyền trong những ngôi mộ cổ được tìm thấy ở Tràng Kênh – Việt Khê (Hải Phòng) với hơn 100 hiện vật tùy táng bằng đồng thau, trong đó có trống đồng, khẳng định cư dân sống nhờ thuyền, chết cũng không rời hình ảnh con thuyền.

Thực chất của quá trình dựng nước đầu tiên ở nước ta là một quá trình lấn biển theo hai hướng: từ núi xuống (lấn biển) và ngược lại, từ hướng biển lên (biển lấn). Có những nhóm người thời biển tiến toàn tân là cư dân ven biển nhưng sang đến thời kỳ cách đây 4.000 – 5.000 năm, theo đà biến thoái, họ đã nghiễm nhiên trở thành cư dân nội địa, cư dân của vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu. Đó là một trong những nét độc đáo thể hiện tính chất bản địa của những nhóm cư dân thời dựng nước, trong đó có cư dân của nước Văn Lang.

Vào khoảng trước và sau công nguyên, với những thành tựu chinh phục mặt nước biển, những cư dân cuối cùng của quận Nhật Nam với sự bảo tồn được độc lập, tự do qua sự thành lập nước Lâm Ấp, đã có những mối giao lưu rộng rãi với Ấn Độ. Cư dân của Ốc Eo đã có những mối liên hệ xa bằng đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải. Trong tình trạng bị nô dịch bởi các thế lực phong kiến phương Bắc có ưu thế về sức mạnh biển, những cư dân ven biển ở phía Bắc cũng biến thành những người lao công tủi nhục, bị bóc lột nặng nề. Thời Ngô Quyền và sau này là Đinh Tiên Hoàng, 3 trong 7 quận của nước ta đã khôi phục được nền độc lập, tự chủ, mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Nhà Trần hùng mạnh, ba lần đánh tan quân Nguyên đã khởi dựng được sự nghiệp từ những người đánh cá ven biển Nam Định – Ninh Bình ngày nay. Nhà Mạc với sự phát huy cao độ yếu tố dân gian trong nền văn hóa dân tộc cũng bắt đầu sự nghiệp của mình từ những cư dân làm nghề đánh cá ven biển Hải Phòng hiện nay. Những vương triều phong kiến được xây dựng từ những cư dân và nghề đánh cá ở ven biển phải chăng là một hiện tượng độc đáo Việt Nam.

Vấn đề chủ quyền lãnh hải cũng được các triều đình phong kiến nước ta chăm lo quản lý. Thời Lý đã thiết lập những Trang, thời Trần thiết lập những Trấn, thời Lê (năm 1426) đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo… để quản lý biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của ta. Thời Nam – Bắc phân tranh, với việc thành lập và biến các đội Hoàng Sa thành một tổ chức của Nhà nước, quyền làm chủ lãnh hải ở nước ta đã được xác định chính thức. Hàng năm, triều đình thường chọn 70 suất dân ở Cù Lao Ré để sung vào đội này. Họ là những người thông thạo nghề đi biển và có nhiều kinh nghiệm quý báu hoạt động ở những vùng biển nhiều đảo san hô. Thời Tây Sơn vẫn duy trì hoạt động của các đội Hoàng Sa. Năm 1786, Vua sai cai đội Hoàng Sa Hội Đức Hầu dẫn 4 thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm vàng bạc, đồ đồng, đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải sâm và của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ. Nhà Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân ở xã An Vĩnh sung vào; hàng năm, đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo; sai đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tư Chính (Bình Thuận) hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa quản lý. Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo vẽ đường biển. Năm 1836, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh vua ra Hoàng Sa trông nom đo đạc lưu dấu để ghi nhớ.

Thủy quân Lạc Việt đã từng đứng vào bậc nhất, nhì ở Đông Nam châu Á. Trong suốt chiều dài lịch sử gần 2.000 năm của dân tộc Việt Nam, trên sông biển đã hình thành nên những trận thủy chiến oanh liệt như: chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc, diệt Hồ Tôn từ phía Nam (thời Hùng Vương); quân thủy Lê Chân làm khiếp đảm quân thủy địch ở vùng biển Hải Phòng ngày nay (thời Hai Bà Trưng); chặn đánh Trần Bá Tiên ở Tô Lịch, Hồ Điển Triệt, Đầm Dạ Trạch (thời Lý Nam Đế); đánh quân Đường, vây thành Đại La (thời Mai Thúc Loan); trận Bạch Đằng lần thứ nhất – năm 938 (thời Ngô Quyền); trận Bạch Đằng lần thứ hai – năm 981 (thời Lê Hoàn); náo động Châu Khâm, Châu Liêm – năm 1075, chặn đứng quân địch ngoài biển – năm 1077 (thời Lý). Đặc biệt, là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba – năm 1288, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn thiên tài, đã lập được chiến công vang dội nhất trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước. Những nhân vật tài giỏi về hoạt động trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nền nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta.

Thế kỷ thứ XVI, XVII và những năm đầu thế kỷ thứ XVIII, thủy quân Việt Nam cũng chiến thắng các đội thủy quân xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu như đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan trong các năm 1642, 1643; đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702. Thời kỳ Tây Sơn (thế kỷ XVIII), Nguyễn Huệ đã tổ chức phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng được một đội quân thủy hùng mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Quân thủy Tây Sơn đã nhiều lần vào Nam ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến là nhà Trịnh (Đàng Trong) và nhà Nguyễn (Đàng Ngoài), chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công và chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử. Các chiến binh Việt Nam thuộc các triều đại có truyền thống chiến đấu giỏi ở trên biển, trên sông và luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng dưới nước và lực lượng trên bờ. Những trận thủy chiến ở trên sông, biển đã diễn ra hết sức oanh liệt mà ngày nay đã được khái quát là “truyền thống Bạch Đằng” chống ngoại xâm.

Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Quân và dân ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch, vừa lợi dụng sông biển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. Dọc tuyến vận tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu 5 trong những năm cuối của cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền, trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn – chở được 15 đến 20 tấn. Từ năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Lợi dụng các dòng sông, suối, ta tổ chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè, mảng, vận chuyển lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu tiếp tế, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp.

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (thế kỷ XX), dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đã trở thành huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt Nam.

Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo Việt Nam trong quá khứ. Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Một số vấn đề về biển của Việt Nam

Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt.

Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ”Thế kỷ của đại dương”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương.

Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tập trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực.

Việt Nam nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối liền châu Âu, Trung Cận Đông với Đông Á và bờ biển phía Tây châu Mỹ.

Điều này vừa tạo thuận lợi cho nước ta vươn ra biển, nâng cao vị trí địa – chính trị và địa – kinh tế của Việt Nam, vừa đặt ra những phức tạp, thách thức do sự cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực trọng yếu này.

1. Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam

Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2. Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500 km. Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn l km2 và khoảng trên l.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.

Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ này.

Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông.

Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới. Đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này.

Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Đông đóng vai trò là chiếc ”cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới.

Biển và vùng ven biển là cửa mở lớn, là ”mặt tiền” quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. So với các vùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư phát triển mạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có thể trở thành mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ thuận tiện; là môi trường hết sức thuận lợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan toả ra các vùng khác trong nội địa. Có thể nói, vùng ven biển là vùng có nhiều lợi thế hơn hẳn các vùng khác để phát triển kinh tế nhanh.

Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng Tây Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan và Campuchia.

Hiện nay, các nước trong khu vực đang tích cực khởi động chương trình phát triển Tiểu vùng Mê Công, ta và Trung Quốc đang hợp tác xây dựng và thực hiện chương trình Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, coi đó là một cực tăng trưởng mới trong khuôn khổ của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA).

2. Tiềm năng tài nguyên biển

Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong tương lai. Kết quả thăm dò, khảo sát đến nay cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, có trên l00 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy mô tương đối lớn (kể cả cấp trung chuyển quốc tế); có nhiều đảo có giá trị kinh tế cao; có nhiều bãi biển lớn và nhỏ, cảnh quan đẹp, trong đó, có những bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triển các loại hình du lịch biển. Ngoài ra, ven bờ biển có nhiều khoáng sản quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp như than, sắt, titan, cát thuỷ tinh, các loại vật liệu xây dựng khác và khoảng 5 – 6 vạn ha ruộng muối biển.

Vùng ven biển Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc, với khoảng hơn 25 triệu người, bằng gần 31% dân số cả nước và khoảng hơn 13 triệu lao động (năm 2005). Dự báo đến năm 20l0, dân số vùng ven biển khoảng gần 27 triệu người, trong đó lao động gần 18 triệu người; năm 2020, dân số khoảng trên 30 triệu người, trong đó, lao động khoảng gần l9 triệu người.

3. Những thành tựu chủ yếu về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam

Sự phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới vừa qua đã có bước chuyển biến đáng kể và đạt được những thành tựu quan trọng.
(1) Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương của Đảng, chấp hành Chỉ thị 399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa phương đã tiến hành quy hoạch, trong đó, rõ nhất là quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010, các quy hoạch chuyên ngành thuỷ sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành thuỷ sản…); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu thuỷ; các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn, v.v… Đến nay, các tỉnh ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, có nội dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển. Ngoài ra, đã tiến hành một số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh tế biển như quy hoạch phát triển các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển như Vân Phong, Cam Ranh, Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…

(2) Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới như khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn… Năm 2000, GDP của kinh tế biển và vùng ven bằng 47% GDP cả nước. Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng hơn 48% GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nước.

Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v… bước đầu phát triển.

Nhiều ngành kinh tế biển phát triển mạnh so với thời điểm trước năm 1993 (năm có Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển). Ví dụ, năm 2005 ngành dầu khí đã khai thác 18,6 triệu tấn dầu thô và 6,6 tỉ m3 khí. Sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt 1,8 triệu tấn. Ngành du lịch biển cũng phát triển mạnh, thu hút hàng năm 73% số lượt khách du lịch quốc tế trong cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân gần 13%/năm.

(3) Vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào xuất khẩu, thu ngoại tệ. Năm 2005, ngành dầu khí đã đóng góp trên 7 tỉ USD cho xuất khẩu, tăng hơn năm 2004 gần 1,33 tỉ USD; nộp ngân sách nhà nước trên 50.000 tỉ đồng, tăng 1.850 tỉ đồng so với năm 2004. Hải sản xuất khẩu chính ngạch (gồm cả đánh bắt hải sản và nuôi trồng) năm 2005 đạt hơn 2,6 tỉ USD. Các ngành khác như vận tải biển, đóng sửa chữa tàu biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v… đã đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.

(4) Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đã được quan tâm tốt hơn. Hiện nay, các kết quả điều tra nghiên cứu về biển đã cung cấp được sự hiểu biết khái quát về các đặc trưng về điều kiện tự nhiên chủ yếu của biển. Hệ thống pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên, quản lý môi trường biển đã được xây dựng.

(5) Trong quá trình phát triển kinh tế mở, bước đầu đã hình thành các trung tâm phát triển để ra biển. Đến nay, trên các vùng biển đã có các trung tâm kinh tế biển như các thành phố Hạ Long, Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ); Huế, Đà Nẵng, Nha Trang – Cam Ranh (vùng biển miền Trung); Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh (vùng biển phía Nam) và Rạch Giá, Cà Mau, khu kinh tế đảo Phú Quốc (vùng biển phía Tây Nam). Đây là những khu vực đã có sự phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và vận tải biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học về biển, v.v…

(6) Đã có bước phát triển mới ở một số hải đảo. Hiện nay, ở những đảo có điều kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt nhờ nguồn vốn Biển Đông – hải đảo (hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số đảo sử dụng điện mặt trời, trên các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp nước ngọt). Vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch, bảo vệ và phát triển rừng, v.v. Tương lai có nhiều đảo như Vân Đồn, Cát Hải, Côn Đảo, Phú Quốc… sẽ phát triển thành những trung tâm để ra biển.

(7) Công tác đối ngoại đã đạt được một số kết quả quan trọng. Cho đến nay, ta đã ký một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (l982), Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam – Malaixia (l992), Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam – Thái Lan (l997), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc (2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – Inđônêxia (2003). Ngoài ra, ta cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaixia, tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam – Philippin (JOMSRE).

(8) Quốc phòng, an ninh trên biển được bảo đảm. Đã đàm phán giải quyết phân định ranh giới về biển giữa nước ta với một số nước có biển trong khu vực; các lực lượng an ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền trên biển. Ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển của người dân được nâng lên rõ rệt./.

Biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Cho nên, Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của những cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt. Ngay từ thế kỷ XIV – XV, Tây Ban Nha đã tới đây tranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philippin, Inđônêxia. Đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lần l¬ượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây chiến tranh chống một số nước quanh khu vực Biển Đông. Do quá trình lịch sử tồn tại hơn một trăm năm nay, cùng với sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển và đặc điểm địa lý của Biển Đông, nên giữa các nước trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chưa thống nhất cần được giải quyết trên các vùng biển và thềm lục địa. Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và các nguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp.

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng 3.448.000 km2, được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Thái Lan, Cămpuchia, Xinhgapo và Đài Loan); là một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng của cả khu vực và thế giới.

Với bờ biển dài khoảng 3.260 km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiều dài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 27/157 nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền/1 km bờ biển, Việt Nam là 100 km2 đất liền/1 km bờ biển). Biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ xa bờ, gần bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảo ven bờ chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tích khoảng 1.700 km2, trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2 (Phú Quốc, Cái Bầu, Cát Bà), có 23 đảo diện tích lớn hơn 10 km2, có 82 đảo diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 1.400 hòn đảo chư¬a có tên.

Theo Công ư¬ớc của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa “hình chữ S” mà còn có cả vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta.

Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên. Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta ở chỗ: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới. Thời kỳ chiến tranh “lạnh” và chiến tranh “nóng”, đây là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại. Trong tình hình hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hoà bình, hội nhập và ổn định ở khu vực, nơi hội tụ nhiều cơ hội của phát triển.

Tuy nhiên, ở đây vẫn còn tồn tại tranh chấp chủ quyền biển, đảo, là nhân tố – nguy cơ gây mất ổn định, khó lường. Điều này luôn đặt ra những khó khăn thách thức, cũng như những thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Về kinh tế, chính trị – xã hội, biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động. Đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.

Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi. Hiện nay chúng ta đang khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen…, đã phát hiện được trên 20 vị trí có tích tụ dầu khí. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Năm 2004, ngành Dầu khí đã đóng góp 30% ngân sách quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sản phẩm cho xã hội, tăng đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển so với GDP cả nước năm 2003 là 39,67%, năm 2004 là 39,81%, năm 2005 là 39,16%; Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định: phấn đấu đến năm 2020 kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP cả nước. Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng… Tiềm năng về khí – điện – đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.

Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malắcca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Inđônêxia, Xinhgapo đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân… Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thuỷ triều và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vào mức nước thuỷ triều. Ven biển miền Trung có nhiều vụng, vịnh nước rất sâu, có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó có các cảng trung chuyển côngtenơ tầm cỡ quốc tế; đồng thời cũng rất thuận lợi để xây dựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng đội thương thuyền đủ mạnh để buôn bán trên thế giới. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển vươn tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởng mới về kinh tế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.

Dọc theo bờ biển, trung bình khoảng 20 km lại có một cửa sông. Phần lớn các sông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển. Đáng chú ý là các hệ thống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Mã, hệ thống sông Cả, hệ thống sông Đông Trường Sơn, hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và hệ thống sông Cửu Long…

Các hệ thống sông này có nhiều cửa thông ra biển thuận tiện cho giao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược lại. Các cửa sông với lượng phù du lớn và rất phong phú đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản.

Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng – hải văn, chế độ thủy triều…. Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi – một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm… Biển nước ta có trên 2.000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế như : trích, thu, ngừ, bạc má, hồng…; hơn 1.600 loài giáp xác (trong đó có tới 70 loài tôm), hơn 2.500 loài nhuyễn thể; hơn 600 loài rong biển …

Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu héc-ta (thực tế năm 2001 mới sử dụng 755.000 ha mặt nước), bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng… Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển. Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân (chiếm 50% lượng đạm động vật trong thành phần dinh dưỡng), mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn.

Tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế: chỉ mới tập trung khai thác ở ven bờ gây nên sự mất cân đối làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt. Để khai thác được nguồn lợi hải sản xa bờ có hiệu quả, từ năm 1997, Nhà nước ta đã có chủ trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng tàu, mua sắm trang bị đánh bắt xa bờ, đồng thời cũng ban hành một số cơ chế chính sách ưu đãi nhằm đẩy mạnh chương trình khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ.

Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển. Với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh… có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào. Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý hiếm, tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao, chữa bệnh… Trong các năm 1993 – 1997, khách du lịch nội địa tăng từ 2,5 triệu lên 8,5 triệu lượt; từ sau năm 2002 đến nay, mỗi năm thu hút trên 10 triệu lượt khách nội địa và khoảng 4 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, trong đó có 50 – 60% khách du lịch biển.

Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế – quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh – quốc phòng.

Về quốc phòng – an ninh. Biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng – an ninh của đất nước. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50 km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc – Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta. Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển – đảo – bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.

Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Sử dụng đường biển sẽ có nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tế hậu cần, sử dụng vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngờ. Ngoài tiềm năng về dầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên du lịch, thủy sản, khoáng sản và nguồn lực lao động , biển còn là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.

Về mặt pháp lý – chính trị, Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 vào ngày 23/6/1994. Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo. Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Ngày 18/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều – quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển.

Trước nguy cơ cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số chưa kiểm soát được và sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, việc quan tâm đến khai thác sử dụng biển hợp lý kết hợp chặt chẽ với bảo vệ quốc phòng – an ninh trên biển và bảo vệ môi trường biển để phát triển bền vững có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Những năm gần đây, Nhà nước ta tổ chức tốt việc khai thác biển, đặc biệt là dầu khí, hải sản, giao thông vận tải phục vụ quốc kế dân sinh. Nhưng Biển Đông hiện là nơi đang tồn tại những mâu thuẫn kinh tế – chính trị của thế giới – một trong các “điểm nóng’’ của thế giới; tập trung những mặt đối lập, thuận lợi và khó khăn, hợp tác và đấu tranh, hòa bình và nguy cơ mất ổn định, dễ gây ra xung đột vũ trang. Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranh chấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông; tạo nên tranh chấp đa ph¬ương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn cả về quốc phòng, kinh tế và đối ngoại… Có lúc các tranh chấp này trở nên quyết liệt, là một trong những yếu tố gây bất ổn định khó lường… Nguy cơ xâm lấn biển, đảo và hoạt động trái phép ngày một gia tăng.

Hàng ngày có hàng trăm tàu thuyền, máy bay nước ngoài xâm phạm vùng biển và vùng trời trên biển của ta dưới nhiều hình thức như khai thác hải sản, thăm dò, nghiên cứu biển, đặt giàn khoan, buôn lậu, vi phạm pháp luật trên biển; thậm chí có nước còn có động thái mới nhằm đẩy mạnh tốc độ độc chiếm Biển Đông. Sự thay đổi chiến lược của các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và sự thay đổi căn bản cục diện ở Đông Nam Á, những tranh chấp biển và động thái mới nói trên đặt ra tình hình hình căng thẳng trên khu vực Biển Đông; đặt chúng ta trước tình thế phải khẩn trương đổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó có chiến lược quốc phòng – an ninh trên biển và chiến lược phát triển kinh tế biển…

Vươn ra biển, khai thác và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còn của dân tộc Việt Nam. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã ra Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020“ nhằm nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra các mục tiêu và những giải -pháp chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nước ta có quan hệ thương mại song phương với trên 100 nước, quan hệ đầu tư với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ; tham gia các tổ chức quốc tế như Ngân hành thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Tới đây, các hoạt động hợp tác song phương, đa phương diễn ra sẽ rộng lớn trong nhiều lĩnh vực cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại…

Trong đó, hoạt động trên biển sẽ diễn ra với quy mô và cường độ lớn hơn, thuận lợi xen lẫn thách thức. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển. Đồng thời, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để nước ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang bị cho quốc phòng – an ninh; tăng cường hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế…, với mục đích cao nhất là ổn định để phát triển đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của nó trong cơ cấu kinh tế cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, các cấp các ngành có liên quan đến khai thác và bảo vệ biển cần có chiến lược của riêng mình trong chiến lược tổng thể của quốc gia, trong đó cần có những giải pháp và bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước và tranh thủ được vốn và kỹ thuật trong hợp tác quốc tế để vươn ra làm chủ biển khơi, phục vụ phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế đất nước với tốc độ nhanh và bền vững./.

 

Phần III. Biển trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, truyền thuyết về Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển nói lên rằng: từ xa xưa tổ tiên ta không chỉ gắn bó với đất liền mà còn gắn bó với biển khơi. Đó là tư duy sơ khai về quá trình chinh phục biển của người Việt cổ. Hình thuyền khắc trên trống đồng Đông Sơn khẳng định từ lâu dân tộc ta đã gắn bó với sông nước, lấy thuyền làm phương tiện làm ăn sinh sống. Quan tài hình thuyền trong những ngôi mộ cổ được tìm thấy ở Tràng Kênh – Việt Khê (Hải Phòng) với hơn 100 hiện vật tùy táng bằng đồng thau, trong đó có trống đồng, khẳng định cư dân sống nhờ thuyền, chết cũng không rời hình ảnh con thuyền.

Thực chất của quá trình dựng nước đầu tiên ở nước ta là một quá trình lấn biển theo hai hướng: từ núi xuống (lấn biển) và ngược lại, từ hướng biển lên (biển lấn). Có những nhóm người thời biển tiến toàn tân là cư dân ven biển nhưng sang đến thời kỳ cách đây 4.000 – 5.000 năm, theo đà biến thoái, họ đã nghiễm nhiên trở thành cư dân nội địa, cư dân của vùng đồng bằng trù phú, phì nhiêu. Đó là một trong những nét độc đáo thể hiện tính chất bản địa của những nhóm cư dân thời dựng nước, trong đó có cư dân của nước Văn Lang.

Vào khoảng trước và sau công nguyên, với những thành tựu chinh phục mặt nước biển, những cư dân cuối cùng của quận Nhật Nam với sự bảo tồn được độc lập, tự do qua sự thành lập nước Lâm Ấp, đã có những mối giao lưu rộng rãi với Ấn Độ. Cư dân của Ốc Eo đã có những mối liên hệ xa bằng đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải. Trong tình trạng bị nô dịch bởi các thế lực phong kiến phương Bắc có ưu thế về sức mạnh biển, những cư dân ven biển ở phía Bắc cũng biến thành những người lao công tủi nhục, bị bóc lột nặng nề. Thời Ngô Quyền và sau này là Đinh Tiên Hoàng, 3 trong 7 quận của nước ta đã khôi phục được nền độc lập, tự chủ, mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Nhà Trần hùng mạnh, ba lần đánh tan quân Nguyên đã khởi dựng được sự nghiệp từ những người đánh cá ven biển Nam Định – Ninh Bình ngày nay. Nhà Mạc với sự phát huy cao độ yếu tố dân gian trong nền văn hóa dân tộc cũng bắt đầu sự nghiệp của mình từ những cư dân làm nghề đánh cá ven biển Hải Phòng hiện nay. Những vương triều phong kiến được xây dựng từ những cư dân và nghề đánh cá ở ven biển phải chăng là một hiện tượng độc đáo Việt Nam.

Vấn đề chủ quyền lãnh hải cũng được các triều đình phong kiến nước ta chăm lo quản lý. Thời Lý đã thiết lập những Trang, thời Trần thiết lập những Trấn, thời Lê (năm 1426) đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo… để quản lý biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của ta. Thời Nam – Bắc phân tranh, với việc thành lập và biến các đội Hoàng Sa thành một tổ chức của Nhà nước, quyền làm chủ lãnh hải ở nước ta đã được xác định chính thức. Hàng năm, triều đình thường chọn 70 suất dân ở Cù Lao Ré để sung vào đội này. Họ là những người thông thạo nghề đi biển và có nhiều kinh nghiệm quý báu hoạt động ở những vùng biển nhiều đảo san hô. Thời Tây Sơn vẫn duy trì hoạt động của các đội Hoàng Sa. Năm 1786, Vua sai cai đội Hoàng Sa Hội Đức Hầu dẫn 4 thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm vàng bạc, đồ đồng, đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải sâm và của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ. Nhà Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân ở xã An Vĩnh sung vào; hàng năm, đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo; sai đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tư Chính (Bình Thuận) hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa quản lý. Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo vẽ đường biển. Năm 1836, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh vua ra Hoàng Sa trông nom đo đạc lưu dấu để ghi nhớ.

Thủy quân Lạc Việt đã từng đứng vào bậc nhất, nhì ở Đông Nam châu Á. Trong suốt chiều dài lịch sử gần 2.000 năm của dân tộc Việt Nam, trên sông biển đã hình thành nên những trận thủy chiến oanh liệt như: chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc, diệt Hồ Tôn từ phía Nam (thời Hùng Vương); quân thủy Lê Chân làm khiếp đảm quân thủy địch ở vùng biển Hải Phòng ngày nay (thời Hai Bà Trưng); chặn đánh Trần Bá Tiên ở Tô Lịch, Hồ Điển Triệt, Đầm Dạ Trạch (thời Lý Nam Đế); đánh quân Đường, vây thành Đại La (thời Mai Thúc Loan); trận Bạch Đằng lần thứ nhất – năm 938 (thời Ngô Quyền); trận Bạch Đằng lần thứ hai – năm 981 (thời Lê Hoàn); náo động Châu Khâm, Châu Liêm – năm 1075, chặn đứng quân địch ngoài biển – năm 1077 (thời Lý). Đặc biệt, là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba – năm 1288, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn thiên tài, đã lập được chiến công vang dội nhất trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước. Những nhân vật tài giỏi về hoạt động trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nền nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta.

Thế kỷ thứ XVI, XVII và những năm đầu thế kỷ thứ XVIII, thủy quân Việt Nam cũng chiến thắng các đội thủy quân xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu như đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan trong các năm 1642, 1643; đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702. Thời kỳ Tây Sơn (thế kỷ XVIII), Nguyễn Huệ đã tổ chức phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng được một đội quân thủy hùng mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Quân thủy Tây Sơn đã nhiều lần vào Nam ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến là nhà Trịnh (Đàng Trong) và nhà Nguyễn (Đàng Ngoài), chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công và chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử. Các chiến binh Việt Nam thuộc các triều đại có truyền thống chiến đấu giỏi ở trên biển, trên sông và luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng dưới nước và lực lượng trên bờ. Những trận thủy chiến ở trên sông, biển đã diễn ra hết sức oanh liệt mà ngày nay đã được khái quát là “truyền thống Bạch Đằng” chống ngoại xâm.

Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng. Quân và dân ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch, vừa lợi dụng sông biển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. Dọc tuyến vận tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu 5 trong những năm cuối của cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền, trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn – chở được 15 đến 20 tấn. Từ năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Lợi dụng các dòng sông, suối, ta tổ chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè, mảng, vận chuyển lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu tiếp tế, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp.

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (thế kỷ XX), dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đã trở thành huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt Nam.

Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo Việt Nam trong quá khứ. Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Một số vấn đề về biển của Việt Nam

Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt.

Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ”Thế kỷ của đại dương”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương.

Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tập trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực.

Việt Nam nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối liền châu Âu, Trung Cận Đông với Đông Á và bờ biển phía Tây châu Mỹ.

Điều này vừa tạo thuận lợi cho nước ta vươn ra biển, nâng cao vị trí địa – chính trị và địa – kinh tế của Việt Nam, vừa đặt ra những phức tạp, thách thức do sự cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực trọng yếu này.

1. Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam

Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2. Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500 km. Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn l km2 và khoảng trên l.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.

Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ này.

Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông.

Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới. Đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này.

Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Đông đóng vai trò là chiếc ”cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới.

Biển và vùng ven biển là cửa mở lớn, là ”mặt tiền” quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. So với các vùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư phát triển mạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có thể trở thành mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ thuận tiện; là môi trường hết sức thuận lợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan toả ra các vùng khác trong nội địa. Có thể nói, vùng ven biển là vùng có nhiều lợi thế hơn hẳn các vùng khác để phát triển kinh tế nhanh.

Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng Tây Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan và Campuchia.

Hiện nay, các nước trong khu vực đang tích cực khởi động chương trình phát triển Tiểu vùng Mê Công, ta và Trung Quốc đang hợp tác xây dựng và thực hiện chương trình Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, coi đó là một cực tăng trưởng mới trong khuôn khổ của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA).

2. Tiềm năng tài nguyên biển

Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong tương lai. Kết quả thăm dò, khảo sát đến nay cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển của nước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, có trên l00 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy mô tương đối lớn (kể cả cấp trung chuyển quốc tế); có nhiều đảo có giá trị kinh tế cao; có nhiều bãi biển lớn và nhỏ, cảnh quan đẹp, trong đó, có những bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triển các loại hình du lịch biển. Ngoài ra, ven bờ biển có nhiều khoáng sản quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp như than, sắt, titan, cát thuỷ tinh, các loại vật liệu xây dựng khác và khoảng 5 – 6 vạn ha ruộng muối biển.

Vùng ven biển Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc, với khoảng hơn 25 triệu người, bằng gần 31% dân số cả nước và khoảng hơn 13 triệu lao động (năm 2005). Dự báo đến năm 20l0, dân số vùng ven biển khoảng gần 27 triệu người, trong đó lao động gần 18 triệu người; năm 2020, dân số khoảng trên 30 triệu người, trong đó, lao động khoảng gần l9 triệu người.

3. Những thành tựu chủ yếu về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam

Sự phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới vừa qua đã có bước chuyển biến đáng kể và đạt được những thành tựu quan trọng.
(1) Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương của Đảng, chấp hành Chỉ thị 399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa phương đã tiến hành quy hoạch, trong đó, rõ nhất là quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010, các quy hoạch chuyên ngành thuỷ sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành thuỷ sản…); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu thuỷ; các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn, v.v… Đến nay, các tỉnh ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, có nội dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển. Ngoài ra, đã tiến hành một số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh tế biển như quy hoạch phát triển các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển như Vân Phong, Cam Ranh, Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…

(2) Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới như khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn… Năm 2000, GDP của kinh tế biển và vùng ven bằng 47% GDP cả nước. Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng hơn 48% GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nước.

Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v… bước đầu phát triển.

Nhiều ngành kinh tế biển phát triển mạnh so với thời điểm trước năm 1993 (năm có Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển). Ví dụ, năm 2005 ngành dầu khí đã khai thác 18,6 triệu tấn dầu thô và 6,6 tỉ m3 khí. Sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt 1,8 triệu tấn. Ngành du lịch biển cũng phát triển mạnh, thu hút hàng năm 73% số lượt khách du lịch quốc tế trong cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân gần 13%/năm.

(3) Vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào xuất khẩu, thu ngoại tệ. Năm 2005, ngành dầu khí đã đóng góp trên 7 tỉ USD cho xuất khẩu, tăng hơn năm 2004 gần 1,33 tỉ USD; nộp ngân sách nhà nước trên 50.000 tỉ đồng, tăng 1.850 tỉ đồng so với năm 2004. Hải sản xuất khẩu chính ngạch (gồm cả đánh bắt hải sản và nuôi trồng) năm 2005 đạt hơn 2,6 tỉ USD. Các ngành khác như vận tải biển, đóng sửa chữa tàu biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v… đã đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.

(4) Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đã được quan tâm tốt hơn. Hiện nay, các kết quả điều tra nghiên cứu về biển đã cung cấp được sự hiểu biết khái quát về các đặc trưng về điều kiện tự nhiên chủ yếu của biển. Hệ thống pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên, quản lý môi trường biển đã được xây dựng.

(5) Trong quá trình phát triển kinh tế mở, bước đầu đã hình thành các trung tâm phát triển để ra biển. Đến nay, trên các vùng biển đã có các trung tâm kinh tế biển như các thành phố Hạ Long, Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ); Huế, Đà Nẵng, Nha Trang – Cam Ranh (vùng biển miền Trung); Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh (vùng biển phía Nam) và Rạch Giá, Cà Mau, khu kinh tế đảo Phú Quốc (vùng biển phía Tây Nam). Đây là những khu vực đã có sự phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và vận tải biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học về biển, v.v…

(6) Đã có bước phát triển mới ở một số hải đảo. Hiện nay, ở những đảo có điều kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt nhờ nguồn vốn Biển Đông – hải đảo (hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số đảo sử dụng điện mặt trời, trên các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp nước ngọt). Vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch, bảo vệ và phát triển rừng, v.v. Tương lai có nhiều đảo như Vân Đồn, Cát Hải, Côn Đảo, Phú Quốc… sẽ phát triển thành những trung tâm để ra biển.

(7) Công tác đối ngoại đã đạt được một số kết quả quan trọng. Cho đến nay, ta đã ký một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (l982), Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam – Malaixia (l992), Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam – Thái Lan (l997), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc (2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – Inđônêxia (2003). Ngoài ra, ta cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaixia, tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam – Philippin (JOMSRE).

(8) Quốc phòng, an ninh trên biển được bảo đảm. Đã đàm phán giải quyết phân định ranh giới về biển giữa nước ta với một số nước có biển trong khu vực; các lực lượng an ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền trên biển. Ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển của người dân được nâng lên rõ rệt.

Biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Cho nên, Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của những cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt. Ngay từ thế kỷ XIV – XV, Tây Ban Nha đã tới đây tranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philippin, Inđônêxia. Đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lần lượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây chiến tranh chống một số nước quanh khu vực Biển Đông. Do quá trình lịch sử tồn tại hơn một trăm năm nay, cùng với sự phát triển của luật pháp quốc tế về biển và đặc điểm địa lý của Biển Đông, nên giữa các nước trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chư¬a thống nhất cần được giải quyết trên các vùng biển và thềm lục địa. Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và các nguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp.

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng 3.448.000 km2, được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Thái Lan, Cămpuchia, Xinhgapo và Đài Loan); là một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng của cả khu vực và thế giới.

Với bờ biển dài khoảng 3.260 km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiều dài đư¬ờng biển trên diện tích đất liền cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 27/157 nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền/1 km bờ biển, Việt Nam là 100 km2 đất liền/1 km bờ biển). Biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ xa bờ, gần bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảo ven bờ chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tích khoảng 1.700 km2, trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km2 (Phú Quốc, Cái Bầu, Cát Bà), có 23 đảo diện tích lớn hơn 10 km2, có 82 đảo diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 1.400 hòn đảo chư¬a có tên.

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa “hình chữ S” mà còn có cả vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta.

Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên. Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta ở chỗ: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới. Thời kỳ chiến tranh “lạnh” và chiến tranh “nóng”, đây là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại. Trong tình hình hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hoà bình, hội nhập và ổn định ở khu vực, nơi hội tụ nhiều cơ hội của phát triển.

Tuy nhiên, ở đây vẫn còn tồn tại tranh chấp chủ quyền biển, đảo, là nhân tố – nguy cơ gây mất ổn định, khó lường. Điều này luôn đặt ra những khó khăn thách thức, cũng như những thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

Về kinh tế, chính trị – xã hội, biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động. Đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.

Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi. Hiện nay chúng ta đang khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen…, đã phát hiện được trên 20 vị trí có tích tụ dầu khí. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Năm 2004, ngành Dầu khí đã đóng góp 30% ngân sách quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sản phẩm cho xã hội, tăng đáng kể tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển so với GDP cả nước năm 2003 là 39,67%, năm 2004 là 39,81%, năm 2005 là 39,16%; Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định: phấn đấu đến năm 2020 kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP cả nước. Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng… Tiềm năng về khí – điện – đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.

Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông. Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malắcca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippin, Inđônêxia, Xinhgapo đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân… Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thuỷ triều và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vào mức nước thuỷ triều. Ven biển miền Trung có nhiều vụng, vịnh nước rất sâu, có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó có các cảng trung chuyển côngtenơ tầm cỡ quốc tế; đồng thời cũng rất thuận lợi để xây dựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng đội thương thuyền đủ mạnh để buôn bán trên thế giới. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển vươn tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởng mới về kinh tế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.

Dọc theo bờ biển, trung bình khoảng 20 km lại có một cửa sông. Phần lớn các sông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển. Đáng chú ý là các hệ thống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Mã, hệ thống sông Cả, hệ thống sông Đông Trường Sơn, hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và hệ thống sông Cửu Long…

Các hệ thống sông này có nhiều cửa thông ra biển thuận tiện cho giao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược lại. Các cửa sông với lượng phù du lớn và rất phong phú đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản.

Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng – hải văn, chế độ thủy triều…. Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi – một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm… Biển nước ta có trên 2.000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế như : trích, thu, ngừ, bạc má, hồng…; hơn 1.600 loài giáp xác (trong đó có tới 70 loài tôm), hơn 2.500 loài nhuyễn thể; hơn 600 loài rong biển …

Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu héc-ta (thực tế năm 2001 mới sử dụng 755.000 ha mặt nước), bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng… Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển. Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân (chiếm 50% lượng đạm động vật trong thành phần dinh dưỡng), mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn.

Tiềm năng nguồn lợi hải sản của nước ta rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế: chỉ mới tập trung khai thác ở ven bờ gây nên sự mất cân đối làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt. Để khai thác được nguồn lợi hải sản xa bờ có hiệu quả, từ năm 1997, Nhà nước ta đã có chủ trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng tàu, mua sắm trang bị đánh bắt xa bờ, đồng thời cũng ban hành một số cơ chế chính sách ưu đãi nhằm đẩy mạnh chương trình khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ.

Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển. Với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh… có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào. Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý hiếm, tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao, chữa bệnh… Trong các năm 1993 – 1997, khách du lịch nội địa tăng từ 2,5 triệu lên 8,5 triệu lượt; từ sau năm 2002 đến nay, mỗi năm thu hút trên 10 triệu lượt khách nội địa và khoảng 4 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, trong đó có 50 – 60% khách du lịch biển.

Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế – quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh – quốc phòng.

Về quốc phòng – an ninh. Biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng – an ninh của đất nước. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50 km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc – Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta. Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển – đảo – bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.

Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Sử dụng đường biển sẽ có nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tế hậu cần, sử dụng vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngờ. Ngoài tiềm năng về dầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên du lịch, thủy sản, khoáng sản và nguồn lực lao động , biển còn là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1, DK2; vùng biển Tây Nam.

Về mặt pháp lý – chính trị, Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 vào ngày 23/6/1994. Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo. Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển. Ngày 18/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều – quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển.

Trước nguy cơ cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số chưa kiểm soát được và sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, việc quan tâm đến khai thác sử dụng biển hợp lý kết hợp chặt chẽ với bảo vệ quốc phòng – an ninh trên biển và bảo vệ môi trường biển để phát triển bền vững có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Những năm gần đây, Nhà nước ta tổ chức tốt việc khai thác biển, đặc biệt là dầu khí, hải sản, giao thông vận tải phục vụ quốc kế dân sinh. Nhưng Biển Đông hiện là nơi đang tồn tại những mâu thuẫn kinh tế – chính trị của thế giới – một trong các “điểm nóng’’ của thế giới; tập trung những mặt đối lập, thuận lợi và khó khăn, hợp tác và đấu tranh, hòa bình và nguy cơ mất ổn định, dễ gây ra xung đột vũ trang. Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranh chấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông; tạo nên tranh chấp đa ph¬ương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn cả về quốc phòng, kinh tế và đối ngoại… Có lúc các tranh chấp này trở nên quyết liệt, là một trong những yếu tố gây bất ổn định khó lường… Nguy cơ xâm lấn biển, đảo và hoạt động trái phép ngày một gia tăng.

Hàng ngày có hàng trăm tàu thuyền, máy bay nước ngoài xâm phạm vùng biển và vùng trời trên biển của ta dưới nhiều hình thức như khai thác hải sản, thăm dò, nghiên cứu biển, đặt giàn khoan, buôn lậu, vi phạm pháp luật trên biển; thậm chí có nước còn có động thái mới nhằm đẩy mạnh tốc độ độc chiếm Biển Đông. Sự thay đổi chiến lược của các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và sự thay đổi căn bản cục diện ở Đông Nam Á, những tranh chấp biển và động thái mới nói trên đặt ra tình hình hình căng thẳng trên khu vực Biển Đông; đặt chúng ta trước tình thế phải khẩn trương đổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó có chiến lược quốc phòng – an ninh trên biển và chiến lược phát triển kinh tế biển…

Vươn ra biển, khai thác và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còn của dân tộc Việt Nam. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã ra Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020“ nhằm nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra các mục tiêu và những giải -pháp chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nước ta có quan hệ thương mại song phương với trên 100 nước, quan hệ đầu tư với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ; tham gia các tổ chức quốc tế như Ngân hành thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Tới đây, các hoạt động hợp tác song phương, đa phương diễn ra sẽ rộng lớn trong nhiều lĩnh vực cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại…

Trong đó, hoạt động trên biển sẽ diễn ra với quy mô và cường độ lớn hơn, thuận lợi xen lẫn thách thức. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển. Đồng thời, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để nước ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang bị cho quốc phòng – an ninh; tăng cường hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế…, với mục đích cao nhất là ổn định để phát triển đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của nó trong cơ cấu kinh tế cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, các cấp các ngành có liên quan đến khai thác và bảo vệ biển cần có chiến lược của riêng mình trong chiến lược tổng thể của quốc gia, trong đó cần có những giải pháp và bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước và tranh thủ được vốn và kỹ thuật trong hợp tác quốc tế để vươn ra làm chủ biển khơi, phục vụ phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế đất nước với tốc độ nhanh và bền vững./.

 

Phần III. Sơ lược về luật biển quốc tế và công ước của liên hợp quốc về luật biển 1982

1. Khái niệm pháp luật quốc tế về biển

Không gian mà con người sinh sống trên trái đất chủ yếu gồm ba phần: đất, biển, trời.

Lãnh thổ quốc gia trên đất liền, bao gồm đất liền, đảo, sông, suối, hồ nội địa, vùng trời phía trên và lòng đất bên dưới nằm trong phạm vi các đường biên giới quốc gia xác định qua thực tế quản lý hay điều ước quốc tế. Đường biên giới trên đất liền về cơ bản được coi là bền vững và bất khả xâm phạm mặc dù trên thực tế vẫn đang luôn luôn diễn ra các loại tranh chấp và có sự biến động đường biên giới giữa nhiều quốc gia.

Giới hạn về độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâu của lòng đất bên dưới tuy không được xác định rõ rệt chính xác bao nhiêu cây số nhưng với khả năng kỹ thuật của nhân loại hiện nay, mỗi quốc gia hoàn toàn có thể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạn tối đa là vành đai khí quyển nằm dưới quỹ đạo địa tĩnh và tới độ sâu cho phép thuộc bề dày của vỏ trái đất ở bên dưới phần lãnh thổ của mình.

Riêng với vùng biển, trong thời gian gần đây có rất nhiều sự thay đổi về chất đối với phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc một nước ven biển cũng như vùng biển thuộc về đại dương cũng như phần đáy và lòng đất dưới đáy đại dương không thuộc bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên, biển vẫn còn tồn tại một nguyên tắc cơ bản của Luật biển là có đất (bờ biển) mới có biển. Có thể thấy các thay đổi và phát triển của Luật biển diễn ra theo một tiến trình ba bước cơ bản sau:

- Từ xa xưa cho đến tận giữa thế kỷ XX, các nước ven biển chỉ có vùng biển hẹp (lãnh hải) thuộc chủ quyền rộng 3 hải lý (mỗi hải lý bằng l.852 m). Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển công, ở đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi nước được hưởng quyền tự do biển cả. Hầu như không ai chia biển với ai cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán.

- Từ năm 1958 đến năm 1994, các nước ven biển có lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài dưới biển ra không quá độ sâu 200 m nước (theo các công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1958). Các nước láng giềng, kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vào luật, tự mình quy định phạm vi hoặc ranh giới vùng biển quốc gia, dẫn đến hậu quả có sự chồng lấn và tranh chấp về biển. Luật biển quốc tế lúc đó quy định các nước có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạch đường biên giới biển (bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, ranh giới biển trong vùng tiếp giáp và thềm lục địa) trong vùng chồng lấn. Nguyên tắc hoạch định biên giới biển lúc đó là qua thương lượng trên cơ sở pháp luật quốc tế và thường áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến.

- Từ năm 1994 đến nay, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển mới được các nước ký kết vào năm 1982 (Công ước 1982), phê chuẩn ngày 16/11/1994 và bắt đầu có hiệu lực pháp luật quốc tế. Nước ta phê chuấn Công ước 1982 vào năm 1994. Theo Công ước này, một nước ven biển có năm vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa. Với sự ra đời của Công ước 1982, trên thế giới các nước sẽ phải cùng nhau vạch khoảng 412 đường ranh giới mới trên biển.

Như vậy, theo Công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng ra một cách đáng kể, từ vài chục nghìn km2 lên đến gần một triệu km2 với năm vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Nước Việt Nam không còn thuần tuý có hình dạng hình chữ ”S” nữa mà mở rộng ra hướng biển, không chỉ có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philíppin, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan.

Nội thủy: Là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Vùng nước thuộc nội thủy có chế độ pháp lý như lãnh thổ trên đất liền.

Lãnh hải: Là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển.

Vùng tiếp giáp: Là vùng biển rộng 12 hải lý tiếp giáp và tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền quy định biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế khóa, y tế xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình.

Vùng đặc quyền kinh tế:Là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (trừ lãnh hải thì chiều rộng là 188 hải lý). Trong vùng biển này, nước ven biển có quyền chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sử dụng các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt các công trình và thiết bị nhân tạo. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.

Thềm lục địa: Là vùng đáy và lòng đất đáy biển nằm bên ngoài lãnh hảỉ của nước ven biển trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc tới giới hạn 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn. Tuy nhiên, bề rộng tối đa của thềm lục địa tính theo bờ ngoài của rìa lục địa dù thế nào cũng không được vượt quá giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải, hoặc không quá 100 hải lý bên ngoài đường đẳng sâu 2.500 m. Đối với thềm lục địa, nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia tương tự như trong vùng đặc quyền kinh tế. Tuy nhiên, quyền chủ quyền của nước ven biển trên thềm lục địa là đương nhiên, không phụ thuộc vào việc có tuyên bố hay không.

2. Nguồn của Luật biển quốc tế

Nguồn lịch sử: Văn kiện phân chia biển đầu tiên đó là Sắc chỉ ”Inter Coetera” của Giáo hoàng Alexandre VI ngày 04/5/1493. Đường chia của Giáo hoàng cách phía Tây của đảo Vert 100 liên (một liên tương đương 182 m), phân đại dương thành hai khu vực ảnh hưởng cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Thực chất đó là đường phân chia khu vực truyền đạo của hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ.

Năm 1609, Hugo Grotius viết cuốn ”Mare Liberum” để biện minh cho các quyền tự do trên biển. Tư tưởng này được các quốc gia tư bản mới hoan nghênh vì nó tạo sức cạnh tranh với sự phân chia trên, tạo điều kiện cho các quốc gia hàng hải khác như Hà Lan, Anh… phát triển. Năm 1635, luật gia người Anh – John Selden đáp lại bằng cuốn sách ”Mare Clausum”, khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do trên biển đã thắng thế.

Nguồn hiện đại: Có bốn hội nghị quốc tế được coi là nguồn của luật biển hiện đại.

- Hội nghị pháp điển hoá luật quốc tế La Haye 1930 đạt được hai thắng lợi: công nhận các quốc gia có một lãnh hải rộng ít nhất ba hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải.

- Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1958 tại Giơnevơ đã cho ra đời bốn công ước:

1. Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964, 48 quốc gia là thành viên);

2. Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962, 59 quốc gia là thành viên);

3. Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả (có hiệu lực từ ngày 20/3/1966, 36 quốc gia là thành viên);

4. Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964, 54 quốc gia là thành viên).

Các công ước này đã pháp điển hoá rất nhiều các nguyên tắc tập quán và đã đưa ra nhiều khái niệm mới (như thềm lục địa). Nhưng công ước này thất bại trong việc thống nhất bề rộng lãnh hải (các quốc gia yêu sách tới năm loại bề rộng lãnh hải khác nhau) và trong việc xác định ranh giới của thềm lục địa.

- Hội nghị lần thứ hai của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1960 tại Giơnevơ về bề rộng lãnh hải. Hội nghị này không đưa ra được một kết quả khả quan nào.

- Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp quốc về Luật biển, họp từ năm 1974 đến năm 1982, phản ánh bước phát triển tiến bộ mới của Luật biển và đã làm thay đổi cơ bản trật tự pháp lý cũ về biển. Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận một nguyên tắc mới do Đại sứ Malta đưa ra tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 17/8/1967, coi vùng biển nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại. Kenyađã đưa ra sáng kiến thành lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý.

Một loạt các quy phạm mới được bổ sung vào dự thảo công ước. Sau chín năm đàm phán gay go qua 11 khoá họp, dự thảo công ước đã được thông qua với 130 phiếu. Văn bản cuối cùng được ký kết tại Montego – Bay ngày 10/12/1982 bởi 117 quốc gia và thực thể, trong đó có Việt Nam. Với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, Công ước này thực sự là một bản hiến pháp mới về biển của cộng đồng quốc tế. Mỹ và số đông các nước công nghiệp phát triển, trừ Pháp, không ký kết và phản đối Phần XI của Công ước về chế độ quản lý và khai thác đối với khu vực đáy đại đương được coi là tài sản chung của nhân loại, đặc biệt là thể thức điều hành của Cơ quan quyền lực Đáy đại dương. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Để Công ước thực sự có tính phổ thông, tạo điều kiện cho các cường quốc tham gia, theo sáng kiến của Tổng Thư ký Liên Hợp quốc, một thoả thuận mới đã được ký kết vào ngày 29/7/1994 cho phép thay đổi nội dung của Phần XI của Công ước. Đến nay Công ước đã có hơn 130 nước phê chuẩn.

Có thể hình dung chế độ pháp lý về các vùng biển theo luật biển mới gồm hai khu vực: (a) Các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển nằm tiếp giáp với lãnh thổ các quốc gia ven biển; và (b) Khu vực theo chế độ pháp lý biển cả, trong đó quyền khai thác tài nguyên phi sinh vật được đặt dưới quyền quản lý của Cơ quan quyền lực Đáy đại dương và các nước được hưởng quyền tự do biển cả.

3. Chế độ pháp lý của các vùng biển tiếp giáp lãnh thổ quốc gia ven biển

a. Vùng nước nội thủy

Vùng nước nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền. Tuy nhiên, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nội thủy vẫn có sự khác biệt so với chủ quyền trên lãnh thổ đất liền, vì quốc gia ven biển thực hiện quyền lực của mình trên vùng nước nội thủy không phải đối với các cá nhân mà là đối với tàu thuyền – cộng đồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng biệt.

Vùng nước nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Các vấn đề cần chú ý trong vùng nước nội thủy:

- Quyền được tự do thông thương của tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế và các quy định đối với tàu thuyền nước ngoài;

- Thẩm quyền tài phán dân sự;

- Thẩm quyền tài phán hình sự.

b. Lãnh hải

Lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải của nước ven biển.

Trong lãnh hải có năm nội dung cần chú ý:

- Bản chất pháp lý của lãnh hải;

- Chiều rộng lãnh hải;

- Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải;

- Quyền đi qua không gây hại;

- Vấn đề phân định lãnh hảl.

Bản chất pháp lý: Thuật ngữ lãnh hải là sự kết hợp thành công giữa hai từ lãnh thổ và biển. Lãnh hải là một vùng biển đệm giữa một bên là lãnh thổ do quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, ngoại trừ quyền “đi qua không gây hại” của tàu thuyền nước ngoài theo nguyên tắc tự do hàng hải.

Luật biển coi lãnh hải như một ”lãnh thổ chìm”, một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm, như quốc gia đó tiến hành trên lãnh thổ của mình. Các Điều 2 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, cũng như Điều 2 của Công ước năm 1982 của Liên Hợp quốc về Luật biển ghi rõ: ”Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình,… đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải”. Tuy nhiên, việc đồng hóa lãnh hải thành lãnh thổ không phải là tuyệt đối. Chủ quyền giành cho quốc gia ven biển trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thủy, do sự thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.

Chiều rộng lãnh hải: Hai hội nghị đầu tiên của Liên Hợp quốc về Luật biển đã thất bại trong việc thống nhất hoá chiều rộng lãnh hải. Trước khi có Công ước Luật biển năm 1982, tập quán chung áp dụng chiều rộng lãnh hải là ba hải lý. Sau này, Điều 3 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 đã thống nhất rằng, quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Tới năm 1994 đã có 116 nước tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý.

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải:Việc xác định bề rộng thực tế và ranh giới ngoài của lãnh hải phụ thuộc vào việc vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Thông thường đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải được căn theo ngấn nước thủy triều thấp nhất. Các đảo cách ven bờ có thể được chọn làm điểm cơ sở để vạch đuờng cơ sở lãnh hải. Đường cơ sở lãnh hải là ranh giới trong của lãnh hải.

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển. Công ước cũng đưa ra ba điều kiện để áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, đó là: ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm; ở những nơi có một chuỗi đảo chạy qua; ở những nơi có các điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ. Nhưng đường cơ sở thẳng vạch ra này phải đi theo xu hướng chung của bờ biển và không được cách xa bờ.

Như vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ sở và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.

Quyền đi qua không gây hại: Là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế, được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia. Công ước Giơnevơ 1958 đã pháp điển hoá quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển cho tàu thuyền nước ngoài. Công ước cũng gián tiếp công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu thuyền quân sự nước ngoài, vì nó có điều khoản cho phép quốc gia ven biển được yêu cầu tàu thuyền quân sự nước ngoài rời khỏi lãnh hải của mình trong trường hợp các tàu này vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 chỉ nhắc lại nội dung này. Điều 30 của Công ước quy định rằng, nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức. Tàu ngầm thực hiện quyền đi qua không gây hại phải đi ở trạng thái nổi và phải treo cờ quốc tịch.

Nghĩa của thuật ngữ ”đi qua”: Đi qua lãnh hải có nghĩa và bao gồm cả việc đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy, hoặc đi qua lãnh hải để vào nội thủy hoặc cảng và rời nội thủy ra biển. Công ước Luật biển năm 1982, Điều 18 khoản 2 bổ sung thêm việc đi qua phải là liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua có thể bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, trong trường hợp gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn.

Nghĩa của thuật ngữ “đi qua không gây hại”:

* Các loại tàu thuyền nước ngoài được quyền đi qua lãnh hải của quốc gia ven biển mà không cần phải xin phép trước.

* Việc đi qua này là hành trình liên tục và không gây hại, không xâm phạm tới chủ quyền, an ninh, lợi ích của quốc gia ven biển. Theo Điều 19 của Công ước Luật biển năm 1982, tàu thuyền nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải không được tiến hành một hoặc bất kỳ hoạt động nào sau đây:

- Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc;

- Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

- Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

- Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

- Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

- Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;

- Xếp hoặc dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;

- Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

- Đánh bắt hải sản;

- Nghiên cứu hay đo đạc;

- Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

- Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.

Ngoài ra, quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình (Điều 21, 22 của Công ước).

Tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ luật pháp của quốc gia ven biển về:

- An toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển;

- Bảo vệ các thiết bị công trình, dây cáp, ống dẫn ở biển;

- Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, giữ gìn môi trường biển;

- Hải quan, thuế khoá, y tế, nhập cư.

Tóm lại, luật biển quốc tế và cụ thể là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền của các nước trong phạm vi lãnh hải của các quốc gia ven biển. Mặt khác, Công ước Luật biển cũng thừa nhận quyền của quốc gia ven biển bằng luật quốc gia quy định cụ thể chế độ pháp lý điều chỉnh hoạt động của tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải nhằm đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình.

c. Vùng tiếp giáp lãnh hải.

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài. Phạm vi của vùng tiếp giáp không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, Điều 24 quy định quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại vùng tiếp giáp, nhằm:

- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình.

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Điều 33 nhắc lại nội dung trên nhưng cần lưu ý, về bản chất pháp lý, vùng tiếp giáp lãnh hải được quy định bởi Công ước năm 1958 là một phần của biển cả. Còn vùng tiếp giáp lãnh hải được quy định bởi Công ước năm 1982 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (sẽ xem xét sau), có quy chế của một vùng sui generic (đặc biệt), không phải là một vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và cũng không phải là vùng biển có quy chế tự do biển cả.

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, Điều 303, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, đã mở rộng quyền của quốc gia ven biển đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ. Mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của quốc gia ven biển, đều được coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó.

d. Các Vịnh

Có ba loại vịnh:

- Vịnh do bờ biển của một quốc gia bao bọc. Điều 7 của Công ước năm 1958 và Điều 10 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển. Tuy nhiên, vùng lõm đó chỉ được coi là một vịnh nếu thoả mãn hai điều kiện:

+ Diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm. Theo Điều 10 khoản 3, diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên. Nếu do có các đảo mà một vùng lõm có nhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó;

+ Đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý. Trong trường hợp ngược lại, thì cần phải vạch các đoạn cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong cửa vịnh sao cho phía trong của nó có một diện tích tối đa;

- Vịnh do bờ biển của nhiều quốc gia bao bọc: mỗi quốc gia quy định lãnh hải của mình trong vịnh. Các quốc gia có thể, bằng con đường thoả thuận hoặc do toà án, công nhận chế độ đồng sở hữu vịnh.

- Vịnh lịch sử: một vịnh được coi là lịch sử, căn cứ vào tập quán và các phán quyết của toà án và trọng tài quốc tế phải thoả mãn ba điều kiện:

+ Thực hiện chủ quyền một cách thực sự của quốc gia ven biển;

+ Thực hiện việc sử dụng vùng biển này một cách liên tục, hoà bình và lâu dài;

+ Có sự chấp nhận, công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này.

e. Vùng đặc quyền kinh tế.

Là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.

Vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Bản chất pháp lý: Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý mới, riêng biệt, lần đầu tiên được ghi nhận trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982. Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng sui generic, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước, mà không chia sẻ với các quốc gia khác. Tuy nhiên, so với thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế không tồn tại ipso facto and ab initio; do đó quốc gia ven biển phải yêu sách vùng này bằng một tuyên bố đơn phương.

Chế độ pháp lý: Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có:

* Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

* Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:

i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;

ii. Nghiên cứu khoa học về biển;

iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

* Các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định.

Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.

Quốc gia ven biển quản lý các tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế:

- Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình, đặt dưới quyền kiểm soát của mình;

- Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong việc khai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư của quốc gia ven biển cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thoả thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc các quốc gia bất lợi về mặt địa lý.

Ngoài ra, quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp về bảo tồn và quản lý, nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức. Công ước Luật biển năm 1982 có ghi nhận một loạt điều khoản cụ thể quy định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong việc bảo tồn các loài sinh vật biển cụ thể như: các loài cá di cư xa; các loài có vú ở biển; các đàn cá vào sông sinh sản; các loài cá ra biển sinh sản; các loài định cư.

g. Thềm lục địa.

Định nghĩa và ranh giới thềm lục địa

Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục địa định nghĩa thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này và có ranh giới ngoài được xác định bởi hai tiêu chuẩn:

- Tiêu chuẩn độ sâu: 200 m – một tiêu chuẩn ấn định;

- Tiêu chuẩn khả năng khai thác – một tiêu chuẩn động, mâu thuẫn với tiêu chuẩn trên và chỉ phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật khai thác thềm lục địa của quốc gia ven biển. Nó tạo ra sự bất bình đẳng giữa các quốc gia.

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở; quốc gia ven biển này có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý, với điều kiện tuân thủ các quy định cụ thể về việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa trong Công ước Luật biển năm 1982 và phù hợp với các kiến nghị của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sở Phụ lục II của Công ước.

Chế độ pháp lý của thềm lục địa

- Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình;

- Những quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (bao gồm các tài nguyên không sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư), thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thoả thuận rõ ràng của các quốc gia đó;

- Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào. Các quyền này tồn tại một cách ipso facto and ab initio.

- Tất cả các quốc gia đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa. Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hoặc cáp;

- Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góp theo quy định của Công ước;

- Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này;

- Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được;

- Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì.

4. Chế độ pháp lý của các vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển

a. Biển cả: Là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc phạm vi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các quốc gia ven biển. Thuật ngữ biển cả chỉ áp dụng với cột nước bên trên đáy và lòng đất đáy đại dương.

Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển. Trong vùng biển này, tất cả các quốc gia đều được hưởng các tự do, như:

- Tự do hàng hải;

- Tự do hàng không;

- Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm;

- Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật cho phép;

- Tự do đánh bắt hải sản;

- Tự do nghiên cứu khoa học…

Các quốc gia thực hiện các quyền tự do biển cả trên cơ sở tôn trọng và lưu ý tới lợi ích của cộng đồng quốc tế.

Để đảm bảo trật tự, an toàn cho các hoạt động ở biển cả và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghi nhận một loạt những quy định về:

- Quy chế pháp lý đối với các loại tàu thuyền hoạt động ở biển cả; quyền và nghĩa vụ của quốc gia có tàu đối với tàu thuyền hoạt động ở biển cả;

- Việc ngăn chặn và cấm các hoạt động chuyên chở nô lệ, buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các chất kích thích, cướp biển, phát sóng truyền thanh, truyền hình bất hợp pháp từ biển cả hướng vào đất liền;

- Sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật ở biển cả.

Ngoài ra, cần chú ý đến quyền khám xét và quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài trong biển cả.

b. Đáy đại đương: Là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, được gọi là Vùng theo quy định Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

- Vùng và tài nguyên của Vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí, kể cả các khối đa kim nằm ở đáy đại dương và trong lòng đất dưới đáy – là di sản chung của nhân loại;

- Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của Vùng được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế, gọi là Cơ quan quyền lực quốc tế (ta quen gọi là Cơ quan quyền lực Đáy đại dương). Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hành trong Vùng thông qua bộ máy của mình;

- Cơ quan quyền lực có quyền định ra các quy tắc, quy định và thủ tục thích hợp cho việc sử dụng Vùng vào mục đích hoà bình, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ sự sống của con người, bảo vệ và bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên của Vùng, phòng ngừa những thiệt hại đối với hệ động vật và hệ thực vật.

5. Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia không có biển

Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào để thực hiện các quyền mà những quốc gia này được hưởng theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, kể cả các quyền liên quan tới tự do trên biển cả và liên quan đến những lợi ích phát sinh từ chế độ di sản chung của nhân loại;

Các quốc gia không có biển thực hiện quyền đi ra biển thông qua những thoả thuận trực tiếp, phân khu vực hay khu vực với quốc gia láng giềng có biển – được gọi là quốc gia quá cảnh;

Quốc gia quá cảnh có quyền định ra mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các quyền và các điều kiện thuận lợi được quy định trong Công ước vì lợi ích của quốc gia không có biển không hề dụng chạm đến các quyển lợi chính đáng của quốc gia quá cảnh./.

 

HIỆP ĐỊNH PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử quan hệ giữa hai nước và với sự phát triển của luật biển quốc tế, giữa hai nước tồn tại ba vấn đề biên giới lãnh thổ phải giải quyết là vấn đề biên giới trên đất liền, vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phân định biển trên Biển Đông). Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, trong năm 2000, năm cuối cùng của thế kỷ XX, hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàm phán kéo dài 27 năm từ năm 1974 và ký kết được Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ, cũng như Hiệp định về hợp tác nghề cá trong vịnh giữa hai nước. Đây là những hiệp định quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

I. Kết quả phân định và nội dung Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ

1. Các nội dung và yếu tố liên quan đến phân định

a) Các nội dung phân định:

- Phân định lãnh hải của hai nước;

- Phân định vùng đặc quyền kinh tế;

- Phân định thềm lục địa

b) Các yếu tố liên quan:

- Quyết tâm chính trị của hai nước giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ: Nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước là giải quyết xong vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 (thoả thuận trong các chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1997 và Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 1999).

- Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, dù thoả thuận như thế nào cũng phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982.

- Điều kiện cụ thể và hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, trong đó chủ yếu là điều kiện địa lý tự nhiên.

- Các lợi ích thực chất gắn với nội dung phân định như: diện tích vùng biển phân định được hưởng (hoặc vấn đề lãnh thổ đảo, nếu có); quyền chủ quyền đối với tài nguyên dầu khí, hải sản; chế độ đi lại trên biển và sông biên giới.

- Đồng thời, giải pháp phân định cần đạt được trên cơ sở thông cảm nhân nhượng lẫn nhau, công bằng và hợp tình, hợp lý.

c) Quan điểm và lập trường chính của mỗi bên

Trong quá trình đàm phán, hai bên tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản như sau:

* Về tỷ lệ phân chia diện tích tổng thể vịnh Bắc Bộ:

- Quan điểm cơ bản của phía Trung Quốc là, do điều kiện “địa lý chính trị” của vịnh Bắc Bộ giữa hai nước là đại để đối đẳng nên kết quả phân chia diện tích vịnh giữa hai nước phải “đại thể bằng nhau”, phía Việt Nam có thể hơn một ít nhưng chênh lệch không nhiều. “Đại để bằng nhau” chính là kết quả phân định” công bằng.

Để bảo đảm yêu cầu này, phía Trung Quốc sử dụng phương pháp phân định tổng hợp, trong đó có chỗ sử dụng điểm và đoạn trung tuyến bờ – bờ để thể hiện đường phương án phân định của mình.

- Quan điểm của Việt Nam là cần căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ để phân định nhằm tìm kiếm một giải pháp công bằng. Tỷ lệ diện tích là hệ quả, không phải là tiền đề của việc phân định, công bằng không đồng nghĩa với “chia đôi”.

Ta đề nghị dùng phương pháp đường trung tuyến, là phương pháp phổ biến trong thực tiễn quốc tế, có tính đến hiệu lực của tất cả các đảo, đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ, có sự điều chỉnh cần thiết theo hiệu lực pháp lý và sự quan tâm của mỗi bên.

- Vùng chồng lấn ban đầu của hai bên chiếm khoảng 13% diện tích Vịnh.

* Hiệu lực của đảo, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ:

- Phía Trung Quốc không muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định, đảo Bạch Long Vĩ chỉ có vành đai lãnh hải 12 hải lý (vì mục đích này, họ cũng không cho các đảo của họ có hiệu lực, trừ Hải Nam được coi là lục địa).

Đối với đảo Bạch Long Vĩ, phía Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ nhưng cho rằng nếu cho đảo có hiệu lực, sẽ làm đường phân định đi lệch quá nhiều về phía Trung Quốc, dẫn đến kết quả không công bằng.

- Phía Việt Nam muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn quốc tế, Việt Nam đề nghị đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nhất thiết phải có hiệu lực nhất định trong phân định, việc xem xét hiệu lực của đảo phải căn cứ vào Công ước 1982 và thực tiễn quốc tế nhằm bảo đảm giải pháp phân định công bằng.

* Về đường đóng cửa Vịnh:

- Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của đảo, ta đề nghị đường đóng cửa Vịnh là đường thẳng nối đảo Cồn Cỏ (Việt Nam và Mũi Oanh Ca (Trung Quốc). Trên cơ sỏ đó xác định điểm biên giới ở cửa Vịnh.

- Phía Trung Quốc đề nghị không tính đảo Cồn Cỏ vào phạm vi Vịnh mà lấy đường thẳng nối Mũi Lay (Việt Nam) với Mũi Oanh Ca (Trung Quốc).

- Hai bên có sự khác nhau khoảng 13 hải lý.

* Về nghề cá:

- Việt Nam đề nghị hai bên phân định rạch ròi ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước trong Vịnh, trên cơ sở đó giải quyết tiếp vấn đề hợp tác nghề cá. Vấn đề đánh cá là vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tài nguyên, môi trường nên không thể gắn vào Hiệp định phân định là vấn đề lâu dài về biên giới.

- Phía Trung Quốc nêu nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ là chung, có tính chuyển dịch, không thể chia cắt. Từ lâu ngư dân hai nước đều cùng đánh bắt trong Vịnh. Vịnh Bắc Bộ là ngư trường đánh cá truyền thống của cả ngư dân hai nước. Khi phân định cần bảo đảm “quyền đánh cá truyền thống” của ngư dân Trung Quốc trong vùng đánh cá truyền thống ở Vịnh. Nếu không bảo đảm quyền đánh cá của ngư dân Trung Quốc thì sẽ không thể phân định. Vấn đề quyền đánh cá liên quan trực tiếp đến sự sinh sống của nhiều ngư dân Trung Quốc. Trong quá khứ, hai bên đã ký các Hiệp định hợp tác đánh cá. Phía Trung Quốc muốn đưa vấn đề nghề cá vào trong Hiệp định phân định.

* Vấn đề Tổng đồ phân định vịnh Bắc Bộ và bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân:

- Để có thể xác định đường phương án phân định, hai bên phải thống nhất một bản đồ chung. Hai bên không đồng ý sử dụng bản đồ nước thứ ba cũng như bản đồ đơn phương của mỗi bên nên đã đồng ý cùng nhau thiết lập một bản đồ chung. Vấn đề nổi lên trong việc thành lập bản đồ chung là phương pháp thiết lập bao gồm đo sâu, bay chụp và đo khống chế mặt đất và vấn đề thể hiện đường bờ biển trên tổng đồ.

- Hai bên thống nhất lập tổng đồ vịnh Bắc Bộ phục vụ phân định tỷ lệ 1/500.000 theo phương pháp bay chụp và đo khống chế mặt đất, thể hiện đồng thời hai đường bờ thấp và cao trên tổng đồ.

- Để xác định điểm cơ sở cuối cùng của mỗi bên tại ngấn nước triều thấp nhất, đường đóng cửa sông và phân biệt vùng cửa sông thuộc biên giới trên bộ và vùng cửa sông thuộc phân định vịnh Bắc Bộ và địa hình cụ thể của khu vực cửa sông biên giới phục vụ phân định, hai bên đồng ý cùng đo đạc và lập bản đồ chuyên đề khu vực cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1/10.000.

2. Kết quả đàm phán và nội dung Hiệp định phân định

Căn cứ vào Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, hai bên đã đi đến ký kết Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước bao gồm 11 điều khoản với các nội dung cụ thể như sau:

(1) Hai bên khẳng định các nguyên tắc chỉ đạo công tác phân định là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình; củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của vịnh Bắc Bộ; thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, giải quyết một cách công bằng hợp lý.

(2) Hai bên xác định phạm vi phân định vịnh Bắc Bộ:

- Trong Hiệp định này, vịnh Bắc Bộ là Vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc là bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông là bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây là bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam là đoạn đường thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18030’19” Bắc, kinh tuyến 108041’17” Đông, qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16057’40” Bắc và kinh tuyến 107008’42” Đông.

- Đường đóng cửa sông Bắc Luân là đường nối hai điểm nhô ra nhất của cửa sông tự nhiên trên bờ sông hai nước, tại ngấn nước triều thấp nhất;

- Qua đàm phán, phía Trung Quốc đồng ý với đề nghị của ta là đường đóng cửa Vịnh ở phía Nam là đường thẳng nối mũi Oanh Ca (Trung Quốc) qua đảo Cồn Cỏ và cắt thẳng vào một điểm trên bờ biển Việt Nam.

(3) Xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ:

- Hai bên đồng ý xác định đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ bằng 21 điểm có toạ độ địa lý xác định, nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.

- Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.

- Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Đường biên giới này đi cách đảo Bạch Long Vĩ điểm gần nhất về phía Đông là 15 hải lý, dành cho đảo khoảng 25% hiệu lực. Đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.

Theo đường phân định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh, phía Trung Quốc được 46,77% diện tích, Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% diện tích Vịnh, tức là khoảng 8.205 km2 biển. Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định và tiến hành đánh giá tính tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (tỷ số là 1,1:1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (tỷ số là 1,135:1), có thể nhận thấy rằng đường phân định trong vịnh Bắc Bộ quy định trong hiệp định ký kết giữa hai nước là một kết quả công bằng, phù hợp với hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ và có thể chấp nhận.

(4) Về chế độ pháp lý:

Hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ được xác định theo hiệp định.

(5) Về mặt tài nguyên:

Hiệp định quy định rõ trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên ký kết thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Hai bên cũng đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

(6) Về cơ chế giải quyết tranh chấp. Hai bên cam kết mọi tranh chấp giữa hai bên ký kết liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hoà bình, hữu nghị thông qua thương lượng.

Việc phân định vịnh Bắc Bộ hai nước theo hiệp định này không ảnh hưởng hoặc phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với quy phạm luật pháp quốc tế về luật biển.

II. Kết quả và ý nghĩa của việc ký kết các hiệp định trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

1. Việc ký kết các hiệp định trên được đánh giá là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm 2000. Trước mắt, hai nước còn phải tiến hành các thủ tục phê chuẩn và trao đổi thư phê chuẩn thì các Hiệp định này mới có hiệu lực.

2. Việc ký kết các hiệp định này mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cũng như trong lịch sử xác định biên giới biển và hợp tác nghề cá trên Biển Đông, là một sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như quan hệ Việt – Trung.

Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc ngày 25/12/2000 nhấn mạnh: Việc hai nước ký kết “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa hai nước Cộng hoà xã hội chủ ngĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”, “Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa”, “Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ XXI. Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thoả thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hoà bình, hữu nghị.

3. Với việc ký kết Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, chúng ta đã giải quyết dứt điểm được vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên bộ, vịnh Bắc Bộ và Biển Đông).

Lần đầu tiên, giữa ta và Trung Quốc đã có một đường biên giới biển rõ ràng bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ có giá trị pháp lý quốc tế, được hai bên cùng thoả thuận.

Hiệp định quy định rõ hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mỗi nước đối với các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên căn cứ vào luật pháp quốc tế và nội dung cả Hiệp định.

Nội dung của Hiệp định là một giải pháp và kết quả công bằng, có cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, đáp ứng một cách hợp tình, hợp lý lợi ích chính đáng của mỗi bên.

4. Các Hiệp định về phân định trong vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá đã các định rõ phạm vi và tạo ra được một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi nước bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế các vùng biển và thềm lục địa của mình trong vịnh Bắc Bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững vịnh Bắc Bộ, duy trì sự ổn định trong Vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước.

Cùng với việc giải quyết các tranh chấp trên biển khác với các nước láng giềng có liên quan, việc ký kết hai hiệp định này là bước tiến mới trong việc xây dựng môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác xung quanh nước ta, tạo điều kiện cho chúng ta tập trung sức lực xây dựng và phát triển đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực.

5. Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ cũng có những đóng góp trong thực tiễn áp dụng và phát triển luật quốc tế về phân định như vấn đề phân định giữa hai nước có bờ biển vừa đối diện vừa tiếp giáp, vai trò của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm trong phân định, vấn đề cửa sông biên giới với các địa hình đáy sông, đáy biển, vấn đề cửa vịnh, vấn đề eo biển quốc tế, giá trị của bản đồ trong hiệp ước biên giới… Hiệp định về hợp tác nghề cá cũng là một mô hình có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về nghề cá trong khu vực Biển Đông trong tương lai.

6. Việc ký kết các hiệp định này một lần nữa đã thể hiện chính sách đúng đắn và thiện chí của nước ta sẵn sàng cùng các nước liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ, các vùng biển và thềm lục địa có liên quan, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định trong khu vực và thế giới.

 

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NGHỀ CÁ Ở VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

I. Tình hình và kết quả đàm phán về Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc ký Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ có nguồn lợi hải sản phong phú. Vào các năm 1957, 1961 và 1963, hai nước Việt Nam – Trung Quốc đã ký các thoả thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh ngoài phạm vi 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thoả thuận này đã hết hiệu lực vào đầu những năm 70. Trong quá trình đàm phán về hoạch định vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị dàn xếp nghề cá bằng việc lập Vùng đánh cá chung, đồng thời với việc phân định vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh việc gắn thoả thuận này với vấn đề hoạch định vịnh Bắc Bộ.

Việt Nam chủ trương tách vấn đề nghề cá ra khỏi vấn đề hoạch định; mặt khác cũng nhận thức rõ nhu cầu khách quan cần giải quyết vấn đề nghề cá với tư cách là một vấn đề kinh tế – kỹ thuật và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề hoạch định vịnh Bắc Bộ.

Trong bối cảnh năng lực đánh bắt hiện nay của hai bên thì việc chấp nhận Vùng đánh cá chung là sự thể hiện thái độ thiện chí, tích cực, có nguyên tắc, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế của ta.

Việc lập Vùng đánh cá chung cũng đang được áp dụng trong một số trường hợp trên thế giới. Các quy định trong Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982.

Việc ký Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ sẽ tạo cơ sở để mở ra hợp tác nghề cá toàn diện với Trung Quốc cũng như tăng cường, mở rộng các hình thức hợp tác nghề cá với các nước khác.

2. Kết quả đàm phán về Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ

Qua sáu vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, qua thương lượng, hai bên đã nhất trí hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ bằng việc thiết lập một Vùng đánh cá chung với phạm vi hợp lý và cơ chế quản lý thích hợp:

+ Phạm vi Vùng đánh cá chung trong vịnh Bắc Bộ từ vĩ tuyến 200 Bắc xuống đường đóng cửa Vịnh, bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía; có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, bảo đảm cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý: đại bộ phận cách bờ của ta 35 – 59 hải lý, chỉ có hai điểm cách bờ 28 hải lý là ở Mũi Ròn và Mũi Độc (Hà Tĩnh – Quảng Bình). Thời hạn của Vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và ba năm gia hạn).

+ Cơ chế quản lý hoạt động Vùng đánh cá chung bảo đảm ba nguyên tắc lớn là: vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số lượng tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, được xác định thông qua điều tra định kỳ; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Hai bên thoả thuận lập Uỷ ban Liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế và thực hiện việc quản lý Vùng đánh cá chung.

Ngoài Vùng đánh cá chung ra, bai bên thoả thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn bốn năm ở vùng biển phía Bắc vĩ tuyến 200 cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ thì tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, không được đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của bên kia nữa, trừ khi được bên kia cho phép.

Đồng thời, hai bên cũng thoả thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra, vào của tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu cá đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và rộng hải lý tính từ đường phân định về mỗi bên.

II. Nội dung Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

“Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” ký ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh, gồm có mở đầu, bảy phần, 22 điều và một phụ lục.

Phần mở đầu: Nêu mục đích và nguyên tắc chỉ đạo việc hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ là hợp tác bình đẳng cùng có lợi, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển, tăng cường hợp tác nghề cá giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ, giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, tôn trọng Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.

Phần I: Các quy định chung (2 điều):

- Điều 1 quy định “Phạm vi áp dụng của Hiệp định” là một phần vùng đặc quyền kinh tế của hai nước trong vịnh Bắc Bộ, bao gồm: Vùng đánh cá chung, Vùng dàn xếp quá độ (vùng nước quá độ) và vùng đệm cho tàu cá nhỏ ở phía ngoài cửa sông Bắc Luân.

- Điều 2 quy định “Nguyên tắc chung” khẳng định sự hợp tác nghề cá trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau; không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các quyền lợi khác thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước.

Phần II: Vùng đánh cá chung: Gồm 8 điều từ Điều 3 đến Điều 10 quy định:

- Phạm vi vùng đánh cá chung (Điều 3): Là vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước nằm về phía Bắc của đường đóng cửa vịnh Bắc Bộ, về phía Nam của vĩ tuyến 200 Bắc và cách đường phân định vịnh Bắc Bộ 30,5 hải lý về mỗi phía.

Phạm vi cụ thể của Vùng đánh cá chung là vùng nước nằm trong các đoạn đường thẳng tuần tự nối liền 16 điểm có vĩ độ và kinh độ đã được xác định trên Tổng đồ toàn diện vịnh Bắc Bộ đính kèm theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.

- Quy mô đánh bắt (Điều 6): Hai bên giao quyền cho Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung xác định số lượng tàu cá hàng năm của mỗi bên vào hoạt động đánh bắt trong vùng đánh cá chung trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, phù hợp tình trạng nguồn lợi thuỷ sản và các yếu tố hữu quan khác.

- Cơ chế quản lý (Điều 9): Cơ quan thẩm quyền mỗi bên có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý đối với công dân, tàu cá bên kia hoạt động ở Vùng đánh cá chung thuộc phần biển bên mình. Việc xử lý các vi phạm sẽ căn cứ vào quy định của Uỷ ban Liên hợp nghề cá hoặc luật pháp của nước mình tuỳ từng trường hợp cụ thể.

- Tàu cá nước thứ ba (Điều 10): Mỗi bên có quyền cho phép tàu thuyền nước khác vào hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của bên mình bằng bất kỳ hình thức hợp tác, liên doanh nào trong khuôn khổ quy mô đánh bắt của bên mình. Tàu thuyền đó phải treo cờ của bên cấp phép và phải tuân theo các quy định khác của Uỷ ban Liên hợp nghề cá.

- Việc cấp phép đánh bắt (Điều 7): Cho tàu cá hoạt động trong Vùng đánh cá chung do mỗi bên thực hiện đối với tàu cá bên mình.

Phần III: Dàn xếp quá độ (1 điều)

Điều 11 quy định vùng nước quá độ nằm về phía Bắc Vùng đánh cá chung (từ vĩ tuyến 200 N trở lên). Cho phép tàu cá mỗi bên được hoạt động trong vùng nước quá độ trong vòng bốn năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Sau bốn năm mỗi bên quản lý vùng biển của mình theo chế độ vùng đặc quyền kinh tế riêng.

Phạm vi cụ thể vùng nước dàn xếp quá độ và biện pháp quản lý của việc dàn xếp quá độ sẽ do hai bên thoả thuận quy định trong nghị định thư bổ sung.

Phần IV: Vùng đệm cho tàu cá nhỏ(1 điều)

Điều 12 quy định việc thiết lập một vùng đệm cho tàu cá nhỏ của hai bên qua lại ở khu vực phía ngoài cửa sông Bắc Luân với phạm vi chiều dài 10 hải lý tính từ điểm đầu tiên của đường phân định kéo về phía Nam, chiều rộng lùi về mỗi phía 3 hải lý tính từ đường phân định, phạm vi cụ thể được tạo bởi các đoạn thẳng tuần tự nối 7 điểm có vĩ độ và kinh độ đã xác định.

Tàu cá của phía bên kia chỉ được qua lại phần nước của bên này trong vùng đệm chứ không được đánh cá ở đó. Nếu phát hiện tàu cá của phía bên kia đánh cá trong vùng nước của mình thì cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu rời khỏi vùng nước đó, nhưng kiềm chế không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực. Nếu xẩy ra những tranh chấp khác ngoài lĩnh vực hoạt động nghề cá thì các cơ quan có thẩm quyền liên quan của mỗi nước giải quyết theo luật pháp của nước mình.

Phần V: Uỷ ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung (1 điều)

Điều 13 quy định việc thành lập, thành phần và chức trách của Uỷ ban Liên hợp nghề cá. Uỷ ban này giúp Chính phủ tổ chức thực thi Hiệp định hợp tác nghề cá khi hiệp định có hiệu lực. Uỷ ban Liên hợp nghề cá gồm mỗi bên có một đại diện do Chính phủ bổ nhiệm và một số uỷ viên.

Phần VI: Những điều khoản khác (4 điều)

Các điều 14, 15, 16 và 17 quy định về việc đảm bảo an toàn hàng hải; cứu hộ, cứu nạn; quyền đi qua không gây hại; hợp tác nghiên cứu khoa học trong vùng nước hiệp định.

Phần VII: Các điều khoản cuối cùng (5 điều)

Điều 18 đến Điều 22 quy định: việc giải quyết tranh chấp; các phụ lục, Nghị định thư bổ sung của Hiệp định; việc bổ sung, sửa đổi hiệp định; về bản đồ; thời hạn hiệu lực của hiệp định.

Phụ lục của hiệp định: Quy định về tránh nạn khẩn cấp đối với tàu cá của các bên hoạt động trong Vịnh khi gặp nạn hoặc tình hình khẩn cấp khác.

III. Triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Hiệp định hợp tác nghề cá sau khi được hai bên ký kết hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết của mỗi nước, sẽ có hiệu lực vào ngày được thoả thuận trong văn kiện trao đổi giữa Chính phủ hai nước.

Để hiệp định có hiệu lực, việc tiếp theo phải làm sau khi ký hiệp định là: tiếp tục đàm phán về phụ lục của hiệp định liên quan Vùng quá độ (dàn xếp quá độ); trình Chính phủ phê duyệt hiệp định và trao đổi thư phê duyệt với phía Trung Quốc; chuẩn bị thành lập Uỷ ban Liên hợp nghề cá Việt – Trung để tiến hành họp và soạn thảo quy chế hoạt động.

Giới thiệu, giải thích để mọi tầng lớp nhân dân cả nước, đặc biệt là các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ, quán triệt được ý nghĩa của việc ký hiệp định và nắm vững nội dung hiệp định như đã nêu ở trên.

Chuẩn bị điều kiện cần thiết và nâng cao năng lực quản lý hoạt động nghề cá trên biển của các cơ quan chức năng, tăng cường sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các ngành và các địa phương để thực hiện tốt hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ.

Xây dựng chính sách, biện pháp cụ thể để nâng cao năng lực khai thác nguồn lợi hải sản của ta kể cả trong Vùng đánh cá chung cũng như bảo tồn tốt tài nguyên sinh vật biển trong vịnh Bắc Bộ.

Tập huấn cho cán bộ các cơ quan, đơn vị hữu quan có chức trách thực hiện việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động nghề cá trong vịnh Bắc Bộ để thực thi hiệp định.

 

PHÂN ĐỊNH BIỂN VIỆT NAM – THÁI LAN

Ngày 9/8/1997, tại Băng Cốc Thái Lan, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và đồng nghiệp, Ngài Prachuab Chaiyasan, Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Thái Lan đã đặt bút ký Hiệp định về biên giới biển Việt Nam – Thái Lan, chấm dứt một phần tư thế kỷ tranh cãi giữa hai nước về giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn Việt Nam – Thái Lan.

Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, với diện tích khoảng 300.000 km2, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước Thái Lan (1.560 km), Việt Nam (230 km), Malaixia (150 km) và Campuchia (460 km). Vịnh thông ra Biển Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp bởi mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau chừng 400 km (215 hải lý). Vịnh khá dài (chừng 450 hải lý) nhưng có diện tích nhỏ, chiều rộng trung bình là 385 km (208 hải lý). Do đó, căn cứ vào các quy định mới Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, toàn bộ Vịnh là đối tượng của các yêu sách mở rộng quyền tài phán của các quốc gia ven biển ra tới hạn 200 hải lý. Thái Lan và Việt Nam là hai nước có bờ biển đối diện, cùng có quyền mở rộng vùng biển của mình, do đó đã tạo ra một vùng chồng lấn rộng khoảng 6.074 km2.

Trong Vịnh, Thái Lan là nước đầu tiên đã thăm dò và khai thác dầu khí. Ngày 18/5/1973, Thái Lan đơn phương vạch ranh giới ngoài của thềm lục địa Thái Lan trong Vịnh và công bố các tọa độ của con đường này. Ranh giới này là đường trung tuyến giữa một bên là các đảo quan trọng của Thái Lan như Ko Phangun, Ko Samui và bờ biển Thái Lan… và bên kia là các đảo quan trọng và bờ biển của các quốc gia liên quan như đảo Rong, Xalem của Campuchia, Phú Quốc, mũi Cà Mau của Việt Nam… Đây là yêu sách tối đa của Thái Lan, khai thác việc xác định các “hoàn cảnh đặc biệt” theo Điều 6 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục địa mà Thái Lan là một bên phê chuẩn. Để vạch ranh giới này, Thái Lan đã bỏ qua các đảo xa bờ như đá Ko Kra, Ko Losin của Thái Lan, đảo Poulo Wai của Campuchia và quần đảo Thổ Chu của Việt Nam.

Đường yêu sách do chính quyền Việt Nam cộng hoà đưa ra năm 1971 được coi là đường trung tuyến được vạch giữa một bên là Hòn Khoai, Thổ Chu và Poulo Wai và bên kia là bờ biển Thái Lan và đảo Ko Phangun, không tính đến các đảo đá nhỏ Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan.

Sở dĩ các bên có yêu sách khác nhau là do lập trường có tính đến vị trí của các đảo, quần đảo Thổ Chu nằm cách đảo Phú Quốc 55 hải lý trong khi các đá Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan nằm cách bờ biển Thái Lan 26 và 37 hải lý tương ứng. Đảo xa bờ tuỳ theo vị thế của nó đều có hiệu lực trong phân định ranh giới biển giữa hai nước có bờ biển đối diện.

Trong thời gian từ năm 1977 đến năm 1982, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua một loạt các văn kiện pháp lý liên quan đến phần biển Việt Nam trong Vịnh. Đó là Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam và Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia ngày 7/7/1982. Trong các văn kiện này, Việt Nam đã không vạch một ranh giới chính thức nào cho thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Việt Nam nhấn mạnh sẽ cùng các quốc gia liên quan thông qua thương lượng trực tiếp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.

Ngày 22/11/1982, Bộ Ngoại giao Thái Lan tuyên bố phản đối tuyên bố đường cơ sở của Việt Nam và “bảo lưu mọi quyền mà luật quốc tế giành cho mình liên quan đến các vùng biển này và vùng trời trên đó”.

Ngày 19/8/1992, Thái Lan bổ sung các đá Ko Kra (8023’49″ B 1000 44′ 13” Đ) và Ko Losin (70 10′ 14” B, 1010 59′ 59” Đ) vào hệ thống đường cơ sở của tuyên bố ngày 11/6/1970. Bang Cốc dường như đã đòi hỏi phải tính đến các đảo đá nhỏ chỉ nhô trên mặt nước 1,5 m, không người ở và không có một đời sống kinh tế riêng này trong phân định, trong khi lại tìm cách làm giảm tầm quan trọng của các đảo xa bờ thuộc quốc gia khác như đảo Thổ Chu có diện tích khoảng 10 km2 và 500 – 600 dân, xứng đáng phải có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.

Trong vịnh Thái Lan, các phay chạy theo hướng Bắc – Nam tính từ Tây sang Đông bao gồm: bồn Champon, thềm Samui, bồn Tây, bồn Kra, đứt gãy ngầm Ko Kra và rãnh sâu Pattani có độ dày trầm tích 6 km được coi là khu vực triển vọng có dầu. Đường yêu sách năm 1971 do chính quyền Việt Nam Cộng hoà vạch bao gồm phần lớn phía Bắc và rìa ngoài của bồn Mã Lai, trong khi yêu sách của Thái Lan bao phủ phần Tây – Bắc. Phía Tây các lô 15, 16 và cấu trúc B, nơi có những phát hiện lớn về khí đều nằm chồng lên vùng Việt Nam yêu sách. Do vậy, các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong các lô này bị tạm thời gác lại. Nhằm khai thông quá trình thăm dò và khai thác dầu khí, Thái Lan đề nghị mở đàm phán với Việt Nam về vấn đề phân định biển. Thông cáo chung Việt Nam – Thái Lan ngày 12/1/1978 thể hiện hai nước đã đồng ý đàm phán về biên giới biển giữa họ. Tuy nhiên, sự bất đồng về việc giải quyết cuộc xung đột Campuchia đã gác lại vấn đề.

Tháng 6/1990, Thái Lan cấp đặc nhượng 8.000 km2 cho CFP – Total, bao gồm lô Total-1-B14, Total-1-B15 và Total-1-B16 nằm chồng lên các lô 40, 46, 51, 54, 55 và 58 mà Việt Nam đã cấp cho Petrofina (Bỉ) vào cùng thời gian đó. Tháng 6/1993, Total đã khoan giếng Ton Sak – 1, một cấu tạo nằm ở phía Đông của mỏ Bongkot và nằm sát đường yêu sách 1971 của Việt Nam. Trong năm 1994, tổ hợp công ty này đã khoan tiếp các giếng Ton Sak – 3, 4, 5, gặp khí condensat. Tranh chấp giữa hai nước lại đẩy hai bên một lần nữa tới bàn đàm phán. Hơn nữa, sự thay đổi tình hình chính trị trong khu vực và nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên đặt ra những vấn đề cần giải quyết thông qua một giải pháp cho tranh chấp. Ngày 15/11/1990, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Thái Lan trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã đề nghị với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một sự hợp tác chung phát triển dầu khí trong khu vực tranh chấp. Chuyến thăm Việt Nam ngày 17/9/1991, Thủ tướng Vương quốc Thái Lan cũng biểu lộ mong muốn giải quyết vấn đề phân định thềm lục địa giữa hai nước.

Tháng 10 năm 1991, trong lần gặp đầu tiên tại Băng Cốc Thái Lan của Uỷ ban hỗn hợp Việt – Thái về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật, hai bên đã thông qua biên bản liên quan đến vấn đề phân định các vùng biển như sau:

a) Hai bên cần hợp tác xác định ranh giới các vùng biển do hai nước yêu sách;

b) Hai bên cần cố gắng phân định biên giới biển trong khu vực chồng lấn giữa hai nước; và

c) Một sự phân định như vậy không nên bao gộp các vùng chồng lấn do bất kỳ một nước thứ ba nào yêu sách.

Hai bên cũng đồng ý rằng, trong khi chờ đợi một sự phân định như vậy, không có một hoạt động phát triển hay đặc nhượng nào trong khu vực chồng lấn cho bất kỳ nhà thầu nào. Hai bên sẽ thông báo cho nhau không có một hoạt động phát triển hay đặc nhượng nào trong khu vực Việt Nam yêu sách chồng lên vùng phát triển chung giữa Thái Lan và Malaixia.

Trong bối cảnh đó, phía Thái Lan đề nghị trong trường hợp các cố gắng nêu ở điểm (b) thất bại thì hai bên có thể xem xét áp dụng khái niệm vùng phát triển chung phía Thái Lan.

Phân định vùng đặc quyền kinh tế cũng nằm trong mối quan tâm của chính phủ hai nước. Việc đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân Thái Lan trong các vùng biển của các nước láng giềng đã gây tổn hại không chỉ tới nguồn tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia này mà còn cả thanh danh của Chính phủ Thái Lan. Trong quan hệ với Việt Nam, Thái Lan đã nhiều lần thể hiện nguyện vọng ký kết một hiệp định về nghề cá và xác định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế. Đó là những biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn nạn đánh bắt cá bất hợp pháp. Ngày 23/2/1988, Vương quốc Thái Lan tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế của mình. Tuyên bố này không đưa ra một ranh giới thật sự nào của vùng đặc quyền kinh tế Thái Lan.

Như vậy, giữa Thái Lan và Việt Nam có hai vấn đề cần giải quyết, đó là phân định thềm lục địa và phân định vùng đặc quyền kinh tế. Vịnh Thái Lan không sâu và có bề rộng không vượt quá 300 hải lý nên bản thân nó đã tạo ra một hoàn cảnh hữu quan. Đường phân chia sẽ được xác định chủ yếu căn cứ vào các hoàn cảnh địa lý.

Do được đánh giá có tiềm năng dầu khí trên một thềm lục địa duy nhất trong Vịnh, hai bên hữu quan, Việt Nam và Thái Lan, đều có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc sản xuất dầu khí, có cùng mối quan tâm giành được phần thềm lục địa nhiều nhất có thể. Hơn nữa, các bên không quên giành được sự kiểm soát tối đa cột nước phía trên thềm lục địa phân chia, một vùng biển quan trọng đối với công nghiệp đánh bắt cá. Rõ ràng vùng đặc quyền kinh tế đóng một vai trò không thể bỏ qua trong phân định thềm lục địa.

Ngày 7 – 10/9/1992, cuộc họp cấp chuyên viên đầu tiên về phân định thềm lục địa giữa hai nước đã được tiến hành tại Băng Cốc. Phía Việt Nam đề nghị phân chia vùng chồng lấn hình thành giữa hai đường 1971 và 1973, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt với Điều 74 và 83 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 về phân định theo nguyên tắc công bằng. Phía Thái Lan đòi hỏi lấy đường 1973 làm cơ sở phân định, đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh đường 1971. Nói cách khác, Thái Lan không chấp nhận sự tồn tại vùng chồng lấn giới hạn bởi các đường 1971, 1973 và hiệu lực của đảo Thổ Chủ trong phân định. Cuộc họp tiếp theo tại Hà Nội từ ngày 20 – 23/5/1993, nhằm thúc đẩy đàm phán, phía Việt Nam đã đề nghị chia 50/50 vùng chồng lấn 1971 – 1973, nhưng phía Thái Lan vẫn giữ lập trường cũ.

Tới vòng đàm phán III từ ngày 10 – 13/1/1995, phía Thái Lan đã thể hiện có chuyển biến tích cực khi không bác bỏ đường 1971, và nêu nguyên tắc “mọi đường phân chia phải phản ánh một giải pháp công bằng” – nguyên tắc mà phía Việt Nam đã đề cập đến ngay từ đầu.

Như vậy, hai bên đã thống nhất cần áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định để đi đến một giải pháp công bằng. Hai bên đều đồng ý áp dụng phương pháp trung tuyến trong phân định. Tuy nhiên, hai bên lại có bất đồng sâu sắc trong việc giải thích thế nào là công bằng, cần phải tính đến các yếu tố công bằng nào trong phân định và đường trung tuyến được tính giữa bờ và bờ hay giữa đảo và đảo. Phân định thềm lục địa Việt Nam – Thái Lan chính là giải quyết sự không thống nhất giữa các bên về xác định hiệu lực của các đảo. Điều này thể hiện cuộc đấu tranh pháp lý dai dẳng giữa các bên trong suốt các vòng đàm phán tiếp theo: vòng IV từ ngày 5 – 9/6/1995, vòng V từ ngày 28 – 31/8/1995. Phía Việt Nam, căn cứ Điều 121 Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 cho rằng, quần đảo Thổ Chu mà đảo lớn nhất là đảo Thổ Chu có diện tích khoảng 10 km2 và 500 – 600 dân xứng đáng phải có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Các đá Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan chỉ nhô trên mặt nước 1,5 m, không có người ở và không có một đời sống kinh tế riêng, nên không thể được coi như đảo Thổ Chu. Các đá này nằm cách bờ biển Thái Lan 26 và 37 hải lý. Phía Thái Lan cho rằng vị trí quần đảo Thổ Chu, nằm cách đảo Phú Quốc 55 hải lý, tạo một hiệu lực sai lệch đường biên giới biển có thể. Thái Lan công nhận đảo có quyền có hiệu lực nhưng không phải là một hiệu lực toàn phần. Theo Thái Lan, vấn đề xác định hiệu lực đảo trong phân định còn rất khác nhau, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất, thể hiện qua thực tiễn quốc tế và các phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế. Thái Lan đề nghị cho đảo Thổ Chu hưởng 25 – 30% hiệu lực và chấp nhận dành tối đa cho phía Việt Nam 30% diện tích vùng chồng lấn. Tuy nhiên tới vòng VI, những biến chuyển chính trị trên chính trường Thái Lan đã tác động đến tình hình đàm phán.

Sau khi quan hệ giữa hai nước phát triển thêm với chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Thái Lan tháng 3 năm 1997 và kết quả kỳ họp lần thứ nhất của Uỷ ban Hỗn hợp Việt – Thái về hợp tác kinh tế cũng như thiết lập trật tự trên biển và nghề cá, đàm phán đã tiến triển trở lại. Trong cuộc đàm phán nối lại vòng VIII tại Đà Lạt, từ ngày 30/5 – 3/6/1997, hai bên đã đồng ý giải quyết đồng thời cả hai vấn đề phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế bằng một đường ranh giới duy nhất.

Khu vực phân định mà Hiệp định ngày 9/8/1997 điều chỉnh được xác định trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không nên bao gộp các vùng chồng lấn do bất kỳ một nước thứ ba nào yêu sách. Khu vực này được giới hạn ở phía Bắc và phía Nam bằng các đường yêu sách 1971, 1973. Phía Tây được giới hạn bởi đường “dàn xếp tạm thời” giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia năm 1991 trong một tuyên bố chung thoả thuận hai bên không tiến hành bất kỳ hoạt động phát triển dầu khí nào ở ngoài đường trung tuyến giữa Thổ Chu và Poulo Wai cho đến khi có một giải pháp cuối cùng. Phía Đông được giới hạn bởi ranh giới khu vực phát triển chung Thái Lan – Malaixia năm 1979. Tuy nhiên Việt Nam bảo lưu quyền của mình trong vùng chồng lấn ba bên Việt Nam – Th ái Lan – Malaixia. Việc lấy ranh giới khu vực phát triển chung Thái Lan – Malaixia làm ranh giới cho vùng cần giải quyết chỉ có ý nghĩa là mọi giải pháp giữa Việt Nam và Thái Lan không gây ảnh hưởng gì tới yêu sách của Malaixia, bên thứ ba, trong vùng này.

Sau chín vòng đàm phán, hai bên đã đi đến thoả thuận:

1. Đường phân chia thoả thuận là một đường thẳng kẻ từ điểm C (70 49’0″ B, 103002’30″ Đ), tới điểm K (8046’54″B; 102012’11″Đ). Điểm C chính là điểm nhô ra nhất về phía Bắc của khu vực phát triển chung Thái Lan – Malaixia được xác định rõ trong bản ghi nhớ ngày 21/2/1979, và trùng với điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa của Malaixia năm 1979. Điểm K nằm trên đường thẳng cách đều Thổ Chu và Poulo Wai, đây là đường “dàn xếp tạm thời” Việt Nam – Campuchia năm 1991. Với hiệu lực 32,5% của đảo Thổ Chu, đường phân định thoả thuận này trên thực tế cho thấy Việt Nam được hưởng 1/3 diện tích và Thái Lan được hưởng 2/3 diện tích vùng chồng lấn.

2. Đường biên giới biển CK tạo thành biên giới phân định thềm lục địa giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan, đồng thời cũng là đường phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước. Mỗi bên ký kết đều thừa nhận các quyền chủ quyền và tài phán của bên kia trên vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nằm trong phạm vi đường biên giới biển được xác lập bởi Hiệp định.

3. Trong trường hợp có cấu trúc dầu hoặc khí duy nhất hoặc mỏ khoáng sản có tính chất bất kỳ nào nằm vắt ngang đường biên giới thì hai bên phải có trách nhiệm trao đổi thông tin, cùng tìm kiếm thoả thuận sao cho các cấu trúc hoặc mỏ này được khai thác một cách hiệu quả nhất và chi phí cũng như lợi tức từ việc khai thác sẽ được phân chia một cách công bằng.

4. Hai bên cũng cam kết sẽ tiến hành đàm phán với Malaixia về khu vực yêu sách thềm lục địa chồng lấn giữa ba nước, nằm trong vùng phát triển chung Thái Lan – Malaixia được xác định bởi Bản ghi nhớ giữa Vương quốc Thái Lan và Malaixia về thành lập cơ quan quyền lực chung khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực thềm lục địa xác định của hai nước trong vịnh Thái Lan, ký tại Chiềng Mai ngày 21/2/1979.

Hiệp định ngày 9/8/1997 đã mở ra một trang mới không chỉ trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam – Thái Lan mà cả trong lịch sử phân định vịnh Thái Lan. Hiệp định bao gồm những điểm nổi bật sau:

- Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được trong vịnh Thái Lan. Ngoài tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan, vẫn tồn tại vấn đề phân định biển giữa Việt Nam – Campuchia, Campuchia – Thái Lan, Việt Nam – Thái Lan – Malaixia và Việt Nam – Campuchia – Thái Lan.

- Đây là hiệp định về phân định biển đầu tiên được ký kết tại khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực, đồng thời cũng là hiệp định về phân định toàn bộ các vùng biển đầu tiên trong khu vực. Trong khu vực, đã có Hiệp định về phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Malaixia ngày 27/10/1969 và ngày 21/12/1971, phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Thái Lan ngày 17/12/1971 và phân định thềm lục địa giữa Thái Lan và Malaixia ngày 21/12/1971; Bản ghi nhớ Thái Lan – Malaixia ngày 21/2/1979 về thiết lập Cơ quan quyền lực chung nhằm khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực xác định trong vịnh Thái Lan, Hiệp định về khai thác chung Việt Nam – Malaixia ngày 5/6/1992, nhưng đây là lần đầu tiên có một hiệp định phân chia cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước thành viên ASEAN có tranh chấp biển.

- Hiệp định này đã khẳng định xu thế có thể thoả thuận về một đường biên giới biển duy nhất phân định đồng thời thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong các vùng biển không rộng quá 400 hải lý giữa các bờ biển đối diện nhau.

- Cùng với việc ký kết Hiệp định về phân định, hai Chính phủ còn đạt được thoả thuận về hợp tác bảo đảm an ninh trên biển và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh thông qua việc tổ chức tuần tra chung giữa Hải quan Thái Lan và lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; tổ chức tuyên truyền, giáo dục ngư dân hai nước tôn trọng quy định về đánh cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật.

- Quá trình yêu sách kéo dài từ những năm 1971, 1973, nhưng quá trình đàm phán để đạt được hiệp định giải quyết vấn đề đã được tiến hành trong một thời gian ngắn. Trong vòng năm năm, từ 1992 đến 1997, với chín vòng đàm phán, hai bên đã nhanh chóng đi đến kết quả cuối cùng, thể hiện thiện chí của cả hai nước Việt Nam – Thái Lan, tinh thần hợp tác phát triển giữa các nước thành viên ASEAN. Nên nhớ Thái Lan và Malaixia đã mất hơn 10 năm đàm phán để tìm một giải pháp cho tranh chấp thềm lục địa giữa họ trên vùng chồng lấn rộng 7.250 km2. Năm 1979, họ mới đạt được một thoả thuận về thành lập Cơ quan quyền lực chung phát triển chung vùng chồng lấn đó và phải tới năm 1992 cơ quan này mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động. Việc giải quyết một cách nhanh chóng và chính xác vấn đề phân chia vùng chồng lấn đã thể hiện quyết tâm của hai nước trong khu vực trong việc thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, mà Việt Nam và Thái Lan đều là các nước thành viên.

- Đối với Việt Nam, đây là Hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được với các nước láng giềng. Việt Nam là nước có số lượng các tranh chấp biển liên quan nhiều nhất trong số các tranh chấp biển của khu vực. Hiệp định ngày 26/7/1997 có tác động nhất định thúc đẩy các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp biển giữa Việt Nam với các nước hữu quan trên tinh thần khoản 7, Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

- Hiệp định phân định biển này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Thái Lan, góp phần đảm bảo ổn định an ninh trật tự trên biển, đẩy mạnh sản xuất dầu khí giữa hai nước. Nó mãi mãi là một mốc son trong lịch sử quan hệ giữa hai nước.

 

HIỆP ĐỊNH VỀ VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ VIỆT NAM – CAMPUCHIA

I. Tình hình tranh chấp về chủ quyền các đảo và ranh giới biển trước khi ký kết Hiệp định vùng nước lịch sử năm 1982

1. Khái quát

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau. Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền đòi hỏi một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Năm 1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên theo một đường mà Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán như cũ; mọi hoạt động liên quan đến thăm dò dầu khí trong vùng nước lịch sử phải có ý kiến nhất trí của bên kia mới được tiến hành.

Hai bên còn phải tiếp tục đàm phán để xác định ranh giới biển trong vùng nước lịch sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Năm 1983, hai bên đã ký Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, trong đó nêu rõ hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề tồn tại trên theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước, phù hợp với pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế.

2. Giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đảo

Giữa bờ biển Việt Nam và Campuchia có trên 150 hòn đảo lớn và nhỏ, được chia thành bẩy cụm và một số đảo lẻ. Ngoài một số đảo lớn như Phú Quốc có diện tích 573 km2, Phú Dự – 25 km2, Thổ Chu – 10 km2 và một số đảo như Hòn Dứa, Nam Du trên dưới 5 km2, còn lại các đảo đều nhỏ có diện tích dưới 1 km2.

Cho tới đầu thế kỷ XVII, các đảo trên còn hoang vu chưa có người đến ở. Có một số đảo là sào huyệt của cướp biển từ Triều Châu và Quảng Đông (Trung Quốc) tới.

Năm 1671, Mạc Cửu, người Quảng Đông (Trung Quốc) đã chiêu mộ nhân dân ra khai khẩn, bình định cướp biển và lập nên một trấn gồm bẩy xã, trong đó bao gồm phần lớn các đảo ven bờ của Campuchia hiện nay. Năm 1708, Mạc Cửu được Chúa Nguyễn phong làm Tổng binh cai quản trấn Hà Tiên (1714). Từ đó, việc khai phá đất hoang và quản lý các đảo cũng được triều đình nhà Nguyễn tích cực xúc tiến.

Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, từ năm 1869, Pháp đã tiến hành khảo sát các đảo trong vịnh Thái Lan. Căn cứ vào kết quả khảo sát, ngày 25/5/1874, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định số 124, tổ chức các đảo ven bờ Việt Nam và Campuchia thành một quần đảo trực thuộc tỉnh Hà Tiên, Nam Kỳ.

Từ năm 1913 bắt đầu nảy sinh các tranh chấp về thẩm quyền đặc nhượng khai thác tài nguyên và quyền thu thuế, việc bảo vệ trị an trên các đảo nằm dọc theo bờ biển Việt Nam – Campuchia.

Để giải quyết các mâu thuẫn về quản lý giữa Khâm sứ Cao Miên và Thống đốc Nam Kỳ và bảo đảm an ninh trật tự trên vùng biển này, ngày 31/1/1939, toàn quyền Đông Dương đã viết một bức thư, số 867 – API (sau này có ý kiến lầm tưởng đó là Thông tư Brévié) quyết định vạch một đường phân chia quyền quản lý hành chính và cảnh sát giữa hai bên. Đường này được mô tả trong thư như sau: “…tôi quyết định rằng tất cả các đảo nằm ở phía Bắc một đường vuông góc với bờ biển xuất phát từ đường biên giới giữa Cambodge và Nam Kỳ và lập thành một góc 1400 G với kinh tuyến Bắc, đúng theo bản đồ kèm theo đây, từ nay sẽ do Cambodge quản lý. Đặc biệt, chính quyền bảo hộ sẽ đảm nhiệm vấn đề cảnh sát của các đảo này. Tất cả các đảo ở phía Nam con đường này, kể cả toàn bộ đảo Phú Quốc, sẽ tiếp tục do Nam Kỳ quản lý. Đã quyết định con đường được vạch như vậy chạy vòng qua Bắc đảo Phú Quốc, cách các điểm nhô ra nhất của bờ biển phía Bắc đảo Phú Quốc 3 km”.

Bức thư cũng nêu rõ: “Đương nhiên là ở đây chỉ đề cập vấn đề hành chính và cảnh sát, còn vấn đề quy thuộc lãnh thổ của các đảo này hoàn toàn được bảo lưu”.

Điều cần nói nữa là, đến nay cả hai bên Việt Nam và Campuchia đều không có bản đồ thể hiện đường Brévié kèm theo bức thư này. Theo lời văn này, có nhiều cách thể hiện các đường Brévié theo các cách hiểu khác nhau (ít nhất là có bốn cách vẽ đường Brévié khác nhau) và không thể khẳng định được cách vẽ nào là đúng.

Nghị định số 104/1368 của Bollaert, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương ban hành ngày 13/4/1948 về hành hải và đánh cá cũng không coi đường Brévié là đường ranh giới trên biển. Nội dung này quy định rõ tại Điều 7 “Vùng biển Nam Kỳ bao gồm lãnh hải và vùng tiếp giáp của đảo Phú Quốc thuộc Nam Kỳ”. Trong Điều 6 của văn bản này cũng quy định, lãnh hải có chiều rộng 3 hải lý và vùng tiếp giáp là 20 km tính từ mực nước triều thấp nhất.

Các học giả trên thế giới trong đó có Sarin Sahk (sau này là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Campuchia) cũng không coi đường Brévié là đường biên giới biển. Trong luận án tiến sĩ của mình, được Hoàng thân Sihanouk viết lời tựa và xuất bản tại Pari năm 1966, Sarin Sahk đã viết “Câu cuối cùng của thông tư này quá rõ ràng. Vấn đề chủ quyền được bảo lưu. Nhưng nếu vấn đề này được bảo lưu thì điều đó không có nghĩa là nó được coi như có lợi cho nước này hay nước kia. Vấn đề còn treo lại, hoàn toàn được treo lại.”

Trong suốt quá trình lịch sử của hai nước qua các chế độ khác nhau ở Campuchia và miền Nam Việt Nam, đường Brévié chưa bao giờ được thừa nhận là đường phân chia chủ quyền các đảo và đường biên giới biển.

Như vậy, từ đầu thế kỷ XVIII cho đến trước năm 1939, về lịch sử và pháp lý, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và Campuchia thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chỉ từ năm 1939, Campuchia mới chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát các đảo ở phía Bắc đường Brévié. Tuy vậy, chính quyền Nam Kỳ và sau đó là chính quyền Sài Gòn không chấp nhận, vẫn coi các đảo Wai, Phú Dự, Tiên Mối và nhóm Bắc Hải Tặc thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến năm 1956, Campuchia đưa quân ra chiếm đảo Phú Dự, chiếm nhóm đảo Bắc Hải Tặc năm 1958 và đảo Wai năm 1966.

Năm 1957, Quốc vương Campuchia ra sắc lệnh quy định đường cơ sở thẳng của Campuchia là đường nối liền các điểm chuẩn trên đất liền và các đảo ven bờ của Campuchia và quy định lãnh hải của Campuchia là 5 hải lý. Sắc lệnh này cũng quy định ranh giới trên biển với các quốc gia kế cận là đường vuông góc với đường cơ sở kéo ra biển 5 hải lý (đối với Việt Nam, đường này còn lệch về phía Việt Nam hơn so với đường Brévié), ranh giới ngoài thềm lục địa của Campuchia là đường đẳng sâu 50 m.

Trong năm 1972, chính quyền Lonnol ra Sắc lệnh về ranh giới thềm lục địa (số 439 – 72/PRK, ngày 1/7/1972) và Sắc lệnh quy định hệ thống đường cơ sở và lãnh hải Campuchia (số 518 – 72/PKR, ngày 12/8/1972) quy thuộc các đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia.

Năm 1976, chính quyền Campuchia Dân chủ nêu yêu sách lấy đường Brévié làm đường biên giới biển giữa hai nước vì theo họ “đường này đã được sử dụng như đường biên giới trong gần 40 năm qua”. Cũng trong năm đó, ta đã chính thức trao lại đảo Wai cho Campuchia.

Ngày 31/7/1982, Cộng hoà Nhân dân Campuchia đã ra tuyên bố hệ thống đường cơ sở thẳng bao gồm cả các đảo nằm xa bờ như đảo Wai.

Ngày 7/7/1982, hai nước Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa hai nước. Hiệp định này đã giải quyết được những vấn đề hết sức quan trọng như sau:

- Hiệp định đã xác định giới hạn cụ thể của vùng nước lịch sử thuộc chế độ nội thuỷ chung của hai nước Việt Nam và Campuchia. Ngoài vùng nước này là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền riêng của mỗi nước. Đây cũng là điều hết sức quan trọng tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để hai nước quản lý, bảo vệ các vùng biển của mình.

- Hai bên thoả thuận “lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này”. Đây là lần đầu tiên hai nước thừa nhận chủ quyền của các bên đối với các đảo giữa hai nước. Hiệp định này đã nâng đường Brévié từ ranh giới quản lý hành chính và cảnh sát thành đường phân chia chủ quyền đảo giữa hai nước nhưng cũng xác nhận giữa hai nước chưa có đường biên giới biển.

- Hai bên “sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước trong và ngoài vùng nước lịch sử”. Sau khi ký Hiệp định vùng nước lịch sử, hai bên vẫn tiếp tục đàm phán để phân định đường biên giới biển giữa hai nước trong và ngoài vùng nước lịch sử.

- Việc tuần tiễu, kiểm soát trong vùng nước lịch sử này sẽ do hai bên cùng tiến hành. Trên thực tế, mặc dù các lực lượng tuần tra, kiểm soát và chính quyền địa phương của hai bên đã có các cuộc gặp trao đổi nhằm bảo đảm an ninh trật tự chung trong vùng nước lịch sử nhưng vẫn còn tình trạng mất an ninh, trật tự, các vụ bắt giữ bất hợp pháp tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam đang hành nghề hợp pháp trên biển, một số vụ cướp biển vẫn còn xảy ra. Sắp tới hải quân hai nước sẽ tổ chức tiến hành tuần tra chung trong vùng nước lịch sử theo thoả thuận giữa hai Bộ Quốc phòng.

- Việc đánh bắt hải sản của nhân dân địa phương trong vùng này vẫn tiếp tục theo tập quán làm ăn từ trước tới nay. Như vậy, nhân dân hai nước cùng có quyền khai thác nguồn lợi hải sản một cách hợp pháp trong vùng nước lịch sử. Công dân của nước khác không được phép vào đánh bắt trong vùng nước này.

Đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, v.v. trong vùng nước lịch sử sẽ do hai bên cùng thoả thuận; khi không có thoả thuận không bên nào được đơn phương tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên trong vùng nước lịch sử.

II. Ý nghĩa và nội dung Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia

Mặc dù Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 không có quy định cụ thể về vùng nước lịch sử nhưng thực tiễn quốc tế đã thừa nhận sự tồn tại của vùng nước lịch sử và vùng nước đó thuộc chế độ pháp lý nội thuỷ của các quốc gia ven biển. Trong phán quyết về vụ án “Ngư trường của Nauy” năm 1951, Toà án quốc tế đã đưa ra định nghĩa “vùng nước lịch sử là vùng nước mà người ta coi là nội thuỷ, trong lúc vùng nước đó nếu thiếu một danh nghĩa lịch sử thì không có tính chất nội thuỷ đó“. Trên thế giới đã có trên 20 nước công bố các vịnh, vùng nước lịch sử của riêng hoặc chung giữa hai hoặc ba nước.

Danh nghĩa lịch sử của vùng nước này được dựa trên các điều kiện sau:

- Điều kiện địa lý đặc biệt của vùng nước đòi hỏi phải có một chế độ pháp lý đặc biệt;

- Lịch sử chiếm hữu, sử dụng, khai thác lâu dài và liên tục;

- Vùng nước có ý nghĩa đặc biệt về chiến lược, an ninh quốc phòng, kinh tế đối với quốc gia ven biển.

Từ thực tiễn quốc tế trên chúng ta thấy rất rõ ràng rằng vùng nước nằm giữa các quần đảo Thổ Chu và đảo Phú Quốc của Việt Nam và đảo Wai và bờ biển của Campuchia có đủ điều kiện là vùng nước lịch sử chung giữa hai nước vì:

- Về mặt địa lý: Vùng nước này là vùng biển nông với độ sâu phía ngoài quần đảo Thổ Chu và Wai khoảng 40 m, phía trong có độ sâu trung bình khoảng từ 20 đến 30 m. Vùng biển này hoàn toàn được các đảo và bờ biển của hai nước bao bọc. Vùng biển này gắn liền với bờ biển và là một bộ phận hữu cơ của phần đất liền hai nước Việt Nam và Campuchia. Mặt khác, vùng biển này cũng chịu tác động mạnh của sự biến đổi không ngừng của bờ biển cực kỳ không ổn định, khiến cho địa hình vùng biển cũng luôn thay đổi theo thời gian.

- Về mặt lịch sử: Toàn bộ vùng biển và các hải đảo trong khu vực đã thuộc về hai nước từ lâu đời. Nhân dân hai nước đã quản lý, khai thác sử dụng vùng nước này một cách liên tục.

- Về mặt chiến lược, an ninh quốc phòng, kinh tế: Vùng biển này có ý nghĩa hết sức quan trọng về an ninh quốc phòng và kinh tế đối với nhân dân hai nước trong suốt lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

Nói tóm lại, Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia có ý nghĩa hết sức quan trọng là đã giải quyết được vấn đề chủ quyền các đảo giữa hai nước, một vấn đề tranh chấp phức tạp kéo dài nhiều năm chưa giải quyết được, tạo cơ sở pháp lý để hai nước quản lý, bảo vệ, khai thác các vùng biển của mình, góp phần tạo môi trường an ninh trật tự chung trên biển, củng cố mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước.

Trong thời gian tới, căn cứ vào Luật biển quốc tế và quy định của Hiệp định, hai nước Việt Nam và Campuchia còn có nhiệm vụ tiếp tục đàm phán, giải quyết vấn đề hoạch định đường biên giới biển trong vùng nước lịch sử và lãnh hải cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa liên quan giữa hai nước ở khu vực này.

 

HIỆP ĐỊNH PHÂN ĐỊNH THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM – INĐÔNÊXIA

I. Bối cảnh chung và quá trình đàm phán giải quyết

1. Bối cảnh chung

Sau 25 năm đàm phán, trải qua hai vòng đàm phán cấp chính phủ, 10 vòng cấp chuyên viên chính thức, 12 vòng tham khảo cấp chuyên viên, bốn cuộc họp hẹp, một vòng kỹ thuật, Việt Nam và Inđônêxia đã đi đến một giải pháp cuối cùng về phân định ranh giới vùng thềm lục địa giữa hai nước. Giải pháp đó là kết quả của một quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và sự nhân nhượng từ cả hai bên. Tuy vậy, đàm phán về ranh giới biển giữa hai nước chưa kết thúc vì vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn vẫn chưa được phân định.

Khu vực thềm lục địa phải phân định giữa hai nước nằm ở phía Đông Nam nước ta và Tây Bắc đảo lớn Borneo của Inđônêxia. Trong khu vực phân định này, đảo xa bờ nhất của Việt Nam là Côn Đảo, nằm cách bờ biển của ta khoảng 90 km. Inđônêxia là quốc gia quần đảo với hơn 17.000 hòn đảo lớn, nhỏ nằm rải rác trên một vùng biển rộng lớn. Đảo xa bờ nhất của Inđônêxia giáp vùng này là đảo Natuna Bắc, cách đảo lớn Borneo của Inđônêxia khoảng 320 km về hướng Tây Bắc.

Theo các nhà địa chất, thềm lục địa tại khu vực này là thuộc thềm Xunđa. Tại vùng thềm lục địa này, có một số cấu tạo địa chất có thể có tiềm năng dầu khí, đặc biệt là khu vực phía Đông. Tuy nhiên về tài nguyên nghề cá ở vùng này không nhiều, ít có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của ngư dân Việt Nam.

Năm 1969, Inđônêxia ra tuyên bố về giới hạn thềm lục địa của mình, dựa trên nguyên tắc không vượt quá đường trung tuyến cách đều đường cơ sở quần đảo của Inđônêxia và đường cơ sở của các quốc gia hữu quan.

Năm 1971, chính quyền Sài Gòn đã vạch ranh giới đặc nhượng dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam. Tại khu vực đối diện với Inđônêxia, đường ranh giới được chính quyền Sài Gòn ấn định theo đường trung tuyến cách đều bờ biển Việt Nam với bờ biển đảo Borneo của Inđônêxia.

Năm 1977, theo xu thế phát triển chung của Luật biển quốc tế thể hiện tại diễn đàn Hội nghị của Liên Hợp quốc lần thứ ba về Luật biển, Việt Nam đã ra Tuyên bố Chính phủ, theo đó thềm lục địa của Việt Nam được xác định nằm trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ lục địa Việt Nam ra đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Tiếp theo đó, năm 1982, Chính phủ Việt Nam lại ban hành Tuyên bố xác định hệ thống đường cơ sở của phần lãnh thổ lục địa Việt Nam. Theo Tuyên bố này, đảo Côn Đảo được sử dụng làm một điểm cơ sở để vạch hệ thống đường cơ sở thẳng của Việt Nam.

Trong quá trình thương lượng tại Hội nghị Luật biển lần thứ ba của Liên Hợp quốc, Inđônêxia, xuất phát từ lợi ích của mình, đã tích cực đấu tranh để pháp điển hoá quy chế quốc gia quần đảo. Từ năm 1994, khi Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực, quy chế quốc gia quần đảo trở thành một chế định có giá trị pháp lý đối với các quốc gia thành viên Công ước.

Inđônêxia là quốc gia thành viên của cả Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa và Công ước Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982. Trong khi đó, Việt Nam chỉ bị ràng buộc bởi Công ước Luật biển năm 1982. Việt Nam không phải là thành viên của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa.

Việt Nam và Inđônêxia là hai nước có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tồn tại qua nhiều thập kỷ đấu tranh giành và gìn giữ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, hai nước luôn quan tâm giải quyết mọi vấn đề song phương, trong đó có vấn đề phân định ranh giới trên biển một cách hoà bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Quyết tâm chính trị của hai nước giải quyết vấn đề phân định thềm lục địa được thể hiện trong mọi cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo hai nước. Đặc biệt là trong chuyến thăm chính thức Inđônêxia của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tháng 11/2001, hai bên đã thoả thuận thúc đẩy đàm phán nhằm sớm đạt được giải pháp cuối cùng hai bên có thể chấp nhận được. Tuyên bố báo chí chung nêu rõ: “Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân định thềm lục địa giữa hai nước và ghi nhận những tiến bộ đáng kể đạt được tại các kỳ họp cấp kỹ thuật gần đây, qua đó tạo đà cho việc tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa hai nước. Hai bên nhất trí sẽ sớm giải quyết xong vấn đề này“.

2. Khái quát quá trình đàm phán phân định thềm lục địa từ năm 1978 – 1998

Năm 1972, Chính quyền Sài Gòn và Inđônêxia đã tiến hành đàm phán nhằm phân định thềm lục địa giữa hai nước. Phía Inđônêxia đưa ra yêu sách đường trung tuyến giữa hai đường cơ sở, mà với Inđônêxia đó là đường cơ sở quốc gia quần đảo; thực chất đó là khoảng cách giữa đảo Natuna Bắc của Inđônêxia và Côn Đảo của Việt Nam (gọi là trung tuyến đảo – đảo). Chính quyền Sài Gòn đề nghị phân định theo đường trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và bờ biển đảo lớn Borneo Bắc (Calimantan) của Inđônêxia (gọi là trung tuyến bờ – bờ). Hai đường này tạo thành vùng chồng lấn rộng khoảng 40.000 km2. Hai bên không đạt được thoả thuận nào.

Sau ngày đất nước ta thống nhất, tháng 6/1978 ta bắt đầu đàm phán về phân định thềm lục địa với Inđônêxia. Đến nay, sau hơn 24 năm đàm phán hai bên đã tiến hành 22 vòng họp cấp chuyên viên (10 vòng chính thức và 12 vòng không chính thức), hai vòng chính thức cấp Chính phủ và bốn cuộc họp hẹp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chuyên viên. Vòng họp gần đây nhất là cuộc họp chính thức cấp Chính phủ lần hai vào tháng 6/2003.

Khi bước vào đàm phán tại vòng I chính thức cấp chuyên viên tại Hà Nội (từ ngày 5 – 9/6/1978), phía Việt Nam đưa ra một đường ranh giới tự nhiên, dựa vào một rãnh sâu trên thềm lục địa gần sát đảo Natuna Bắc của Inđônêxia; Inđônêxia vẫn đưa ra trung tuyến đảo – đảo, tạo thành vùng tranh chấp ban đầu rộng khoảng 98.000 km2. Tại các vòng đàm phán từ năm 1978 đến giữa năm 1991, hai bên đã có những bước nhân nhượng, thu hẹp vùng chồng lấn từ 98.000 km2 xuống còn khoảng 40.000 km2. Nhân dịp Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Inđônêxia (tháng 10/1991), hai bên đã thoả thuận chính trị chia 50/50 “vùng còn lại”.

Tại vòng I đàm phán chính thức cấp Chính phủ (Hà Nội, tháng 12/1991), hai bên thảo luận việc thực hiện thoả thuận chính trị nêu trên, nhưng do hai bên hiểu khác nhau về “vùng còn lại” nên đàm phán không đạt được giải pháp.

Từ năm 1994 đến năm 1998, hai bên nối lại thương thuyết. Do Công ước Luật biển 1982 đã có hiệu lực, Inđônêxia dựa vào quy chế quốc gia quần đảo đã được ghi nhận trong Công ước để tăng sức ép nhằm giành một giải pháp phân định có lợi hơn. Trong đàm phán, về phân định thềm lục địa, Inđônêxia quay lại lập trường ban đầu đòi theo trung tuyến đảo – đảo. Đồng thời, Inđônêxia cũng đề nghị thảo luận riêng việc phân định vùng đặc quyền kinh tế theo đó nguyên tắc phân định thường căn cứ vào khoảng cách tính từ đường cơ sở lãnh hải của mỗi bên.

Trong quá trình đàm phán, tuy hai bên đều nhất trí vận dụng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982, cũng như các tập quán quốc tế được công nhận rộng rãi; đồng thời có tính đến các hoàn cảnh có liên quan như chiều dài bờ biển, sự hiện diện của các đảo và bảo đảm sự công bằng, nhân nhượng lẫn nhau để tìm ra giải pháp chấp nhận được đối với cả hai bên. Tuy nhiên, mỗi nước đều vận dụng luật biển và hoàn cảnh cụ thể của khu vực phân định để xây dựng và bảo vệ lập trường pháp lý có lợi nhất cho mình.

Về phía Việt Nam

Việt Nam vận dụng khái niệm thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ lục địa ra đến bờ ngoài của rìa lục địa và thực tế trên đáy biển có một rãnh sâu để đưa ra đòi hỏi ban đầu dựa trên một đường ranh giới tự nhiên. Sự vận dụng này dựa trên cơ sở Việt Nam nằm trên khối lục địa châu Á. Tuy nhiên, do thực tế là đường rãnh sâu này không đáp ứng tiêu chuẩn là một sự gián đoạn về địa chất của thềm lục địa, nên lập luận này cũng có hạn chế. Mặc dù vậy, điều này tạo cơ sở cho Việt Nam hình thành được một lập trường pháp lý ban đầu đối trọng với lập trường của Inđônêxia. Trên cơ sở phân tích lập luận pháp lý và thực tế địa hình tự nhiên của khu vực phân định, tại vòng đàm phán thứ hai, Việt Nam đã đưa ra đề nghị cũ đường “dung hoà”, giảm diện tích của khu vực chồng lấn xuống còn khoảng 40.000 km2.

Việt Nam cũng vận dụng các phán quyết của Toà án quốc tế, Toà Trọng tài quốc tế trong các án lệ về phân định ranh giới thềm lục địa để lập luận rằng, đòi hỏi của Inđônêxia về trung tuyến đảo – đảo không thể là một giải pháp công bằng, bởi vì đường trung tuyến đó phân chia cách đều máy móc về khoảng cách giữa hai đường cơ sở, trong khi thềm lục địa bắt nguồn từ lãnh thổ lục địa, chứ không phải từ đường cơ sở. Hơn nữa sự phân chia máy móc theo khoảng cách đó không tính đến tỷ lệ giữa chiều dài bờ biển phía Đông Nam Việt Nam với chiều dài bờ biển đảo nhỏ Natuna. Đây là một lập luận hợp lý, khiến cho Inđônêxia không thể cứ khăng khăng bám giữ lập trường ban đầu của họ, mà phải chấp nhận cùng nhân nhượng lẫn nhau trong đàm phán.

Về phía Inđônêxia

Inđônêxia có thế mạnh là quy chế “quốc gia quần đảo” đã được ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982 và có hiệu lực cùng với Công ước. Trong thực tiễn phân định thềm lục địa trên thế giới, cũng như giữa Inđônêxia với một số nước láng giềng, phương pháp đường trung tuyến cách đều các đường cơ sở để đo chiều rộng lãnh hải của hai bên phân định đã được thừa nhận và sử dụng tương đối phổ biến.

Lập trường của Inđônêxia là thừa nhận dành hiệu lực toàn phần cho Côn Đảo của Việt Nam, nhưng Inđônêxia áp dụng triệt để “quy chế quốc gia quần đảo”, sử dụng phương pháp đường trung tuyến như là một nguyên tắc, do đó không đưa lại một giải pháp công bằng.

Như vậy, xuất phát điểm của hai bên rất khác nhau: Inđônêxia dựa vào quy chế “quốc gia quần đảo” để đưa ra đường trung tuyến 20 – A – B. Phía Việt Nam đề nghị chia dung hoà K – E – F trên cơ sở định nghĩa thêm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lục địa và nguyên tắc “đất thống trị biển”. Quan điểm của hai bên có các điểm mạnh và yếu nhất định đòi hỏi hai bên phải tiếp tục đàm phán để thu hẹp khoảng cách, tiến tới một giải pháp công bằng cho cả hai bên trên cơ sở Công ước Luật biển năm 1982 và điều kiện địa lý tự nhiên của khu vực phân định.

3. Nguyên tắc áp dụng trong đàm phán từ năm 1998 đến nay

Qua gần 20 năm đàm phán, khác biệt trong việc giải thích và vận dụng các nguyên tắc nói trên của Luật pháp quốc tế về biển của hai bên đã đưa thảo luận đi vào bế tắc. Điều đó buộc hai bên phải có cách tiếp cận mới để thúc đẩy đàm phán. Từ vòng VI không chính thức cấp chuyên viên vào tháng 2/1998 tại Surabaya (Inđônêxia) đến vòng VIII không chính thức cấp chuyên viên vào tháng 7/1999 tại Hà Nội (Việt Nam) và ba cuộc họp hẹp của hai Trưởng đoàn cấp chuyên viên, hai bên không đạt được kết quả cụ thể nào nhưng đã đạt được một số nguyên tắc rất quan trọng để có thể thúc đẩy đàm phán đi vào thực chất, cụ thể là:

- Nhất trí tiếp tục đàm phán trên cơ sở các kết quả đàm phán mà hai bên đã đạt được;

- Hai bên thoả thuận không tiếp tục tranh cãi về lý luận mà sẽ thảo luận về những đường phân định cụ thể mà hai bên nêu ra; và

- Nhất trí hai bên cùng tiến nhích lại gần nhau nhằm đi đến một giải pháp cuối cùng mà hai bên có thể chấp nhận được.

Việc đạt được thoả thuận về các nguyên tắc đàm phán nói trên cùng với thiện chí muốn thúc đẩy đàm phán từ hai bên là một đột phá rất quan trọng trong đàm phán, mở đường cho những bước tiến tiếp theo để có thể đi đến giải pháp cuối cùng. Với thoả thuận trên, hai bên đã có những bước thoả hiệp trên thực tế, tiếp tục đàm phán trên cơ sở những kết quả mà hai bên đã đạt được; đồng thời từng bước nhích đường phân chia lại gần nhau hơn.

II. Kết quả đàm phán

Ngày 26/6/2003, Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Inđônêxia về phân định thềm lục địa giữa hai nước đã được ký chính thức nhân dịp Tổng thống Inđônêxia Megawati sang thăm Việt Nam. Việc ký Hiệp định này xuất phát từ mong muốn củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị sẵn có giữa hai nước và nhằm thiết lập đường ranh giới thềm lục địa giữa hai nước tại khu vực thềm lục địa chống lấn được tạo bởi yêu sách trên biển của hai nước.

1. Nội dung cơ bản của Hiệp định

* Xác định đường phân định thềm lục địa:

- Đường phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Inđônêxia được xác định bằng các đoạn thẳng nối tuần tự các điểm 20 – H-H1-A4-X1-25.

- Các đoạn thẳng và tọađộ của các điểm nêu tại khoản 1, Điều 1 của Hiệp định là các đường trắc địa và tọa độ địa lý được tính toán trên Hệ tọa độ trắc địa thế giới năm 1984 ((WGS 84) và được thể hiện trên mảnh Hải đồ số 3482, tỷ lệ 1:1.500.000 do Hải quân Hoàng gia Anh xuất bản năm 1997, là Phụ lục được đính kèm Hiệp định. Đường ranh giới được thể hiện trên hải đồ đính kèm Hiệp định chỉ nhằm mục đích minh họa.

- Vị trí thực trên biển của các điểm và các đoạn thẳng nêu tại khoản 1, Điều 1 sẽ được xác định bằng các phương pháp do các cơ quan có thẩm quyền của các Bên ký kết thoả thuận. Cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hoà Inđônêxia là Cục Thuỷ đạc và Hải dương học thuộc Hải quân Inđônêxia.

* Vấn đề phân định vùng đặc quyền kinh tế:

Hai bên xác định Hiệp định phân định thềm lục địa sẽ không ảnh hưởng đến bất kỳ hiệp định nào được ký trong tương lai giữa các bên ký kết về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

* Về bảo vệ môi trường biển:

Các bên ký kết sẽ tham khảo ý kiến của nhau nhằm phối hợp chính sách của mình phù hợp với luật pháp quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

* Về các mỏ cắt ngang:

Trong trường hợp có một cấu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc mỏ khoáng sản khác dưới đáy biển nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại khoản 1, Điều 1, các bên ký kết sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thoả thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên và về việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác đó.

* Giải quyết tranh chấp:

Mọi tranh chấp giữa các bên ký kết nảy sinh trong việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hoà bình thông qua hiệp thương hoặc đàm phán.

* Hiệu lực của Hiệp định:

Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam – Inđônêxia được ký với danh nghĩa Chính phủ nhưng phải được phê chuẩn phù hợp với thủ tục luật pháp của mỗi nước và sẽ có hiệu lực vào ngày trao đổi các văn kiện phê chuẩn.

Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Inđônêxia bao gồm những quy định có những nội dung tương tự như các quy định trong các hiệp định về phân định thềm lục địa của nhiều nước trên thế giới và những Hiệp định phân định mà ta đã ký với Thái Lan và Trung Quốc.

Với Hiệp định trên, ta đã khép kín được đường phân định thềm lục địa giữa hai nước, loại bỏ được khả năng mở rộng tranh chấp ra ngoài khu vực liên quan đến thềm lục địa hai bên.

2. Đánh giá kết quả đàm phán

Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa với Inđônêxia là Hiệp định phân định biển thứ ba của nước ta (hiệp định phân định đầu tiên là Hiệp định phân định các vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997; Hiệp định phân định biển thứ hai là Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ Việt Nam – Trung Quốc năm 2000.

Về tổng thể, giải pháp cuối cùng được thể hiện trong bản Hiệp định là thoả đáng công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Hiệp định trên là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và sự nhân nhượng từ cả hai phía.

III. Ý nghĩa của Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – Inđônêxia

Vùng thềm lục địa chồng lấn có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai nước về an ninh, quốc phòng và tiềm năng dầu khí, chính vì vậy, việc ký Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa hai nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng:

- Hiệp định đã phân định rõ ràng phạm vi vùng thềm lục địa của hai nước; đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ nằm trên đường ranh giới thềm lục địa giữa hai nước, qua đó, Hiệp định tạo ra cho ta một cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý vùng thềm lục địa của ta, khép kín đường ranh giới thềm lục địa với một nước láng giềng, góp phần xây dựng đường ranh giới biển với Inđônêxia hoà bình, hữu nghị và ổn định lâu dài; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy hợp tác về bảo vệ môi trường biển và an ninh trên biển; và góp phần tạo cục diện có lợi cho ta trên Biển Đông.

- Việc ký Hiệp định tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí, phục vụ cho sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi nước. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, hai bên có thể tiến hành triển khai các hợp đồng dầu khí đã ký với các nhà thầu nước ngoài.

- Việc ký hiệp định cũng góp phần củng cố hơn nữa tình hữu nghị tốt đẹp giữa hai chính phủ và nhân dân hai nước. Hiệp định là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một mốc mới rất quan trọng trong quan hệ láng giềng, hữu nghị giữa Việt Nam và Inđônêxia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

- Ý nghĩa quan trọng của sự kiện này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ song phương Việt Nam – Inđônêxia mà còn đóng góp thiết thực vào việc thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng khác, vì lợi ích của hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Việc ký được Hiệp định là một thành công tốt đẹp trong việc biến vùng chồng lấn thành vùng có tiềm năng phát triển kinh tế và có hoà bình lâu dài, là một mẫu mực tốt trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ bằng hoà bình, thương lượng, trên cơ sở của luật pháp quốc tế và sự hiểu biết lẫn nhau và là bằng chứng cho thấy các nước trong khu vực có thể tự giải quyết vấn đề của mình.

Từ các cuộc đàm phán về phân định ranh giới thềm lục địa giữa hai nước, ta có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm quý giá có thể áp dụng cho các cuộc đàm phán sắp tới về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.

 

THOẢ THUẬN HỢP TÁC KHAI THÁC CHUNG VIỆT NAM – MALAIXIA

Giữa Việt Nam và Malaixia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800 km2. Vùng này hình thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Việt Nam Cộng hoà công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaixia công bố năm 1979. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do Chính quyền Việt Nam Cộng hoà có tính đến đảo Hòn Khoai, các đảo của cả hai bên, còn Malaixia chỉ tính đến các đảo ven bờ của mình mà bỏ qua Hòn Khoai của Việt Nam (Hòn Khoai cách bờ 6,5 hải lý).

Đây là khu vực chồng lấn có diện tích không lớn nhưng có tiềm năng về dầu khí. Trước khi hai nước đi vào đàm phán, ngày 16/02/1989, Công ty dầu khí quốc gia Malaixia (Petronas) đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) với nhà thầu IPC là người điều hành khu vực lô PM – 3 trùm lên một phần vùng chống lấn. Xuất phát từ nhu cầu khai thác dầu khí phục vụ phát triển của hai nước (diện tích vùng chồng lấn không lớn nếu đàm phán phân định sẽ mất nhiều thời gian) nên ngày 05/6/1992, tại cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ở Kuala Lampur (Malaixia) hai bên đã ký Bản thoả thuận (MOU) về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn.

Nội dung chủ yếu của Thoả thuận (MOU) này là:

- Hai bên đã chính thức xác nhận tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa do Tổng cục dầu khí Việt Nam công bố năm 1977 (trùng với yêu sách thềm lục địa do chính quyền Việt Nam Cộng hoà công bố năm 1971) và đường ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaixia công bố năm 1979. Khu vực xác định này được vạch trên hải đồ của Anh (British Admiralty Chart) số 2414, xuất bản năm 1967.

- Hai bên đồng ý tạm gác vấn đề phân định thềm lục địa để hợp tác tay đôi thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực xác định này theo thời hạn hiệu lực của Thoả thuận đã ký và dựa trên các nguyên tắc sau:

+ Chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lời lãi giữa hai bên;

+ Các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí sẽ được Petronas (Malaixia) và Petrovietnam (Việt Nam) tiến hành trên cơ sở các dàn xếp thương mại sau khi được Chính phủ hai bên phê chuẩn;

+ Thoả thuận này không phương hại tới lập trường cũng như đòi hỏi của mỗi bên đối với khu vực chồng lấn.

- Nếu có mỏ dầu khí có một phần nằm vắt ngang sang khu vực xác định và một phần nằm bên thềm lục địa của Malaixia hoặc Việt Nam thì hai bên sẽ thoả thuận để thăm dò khai thác.

- Vấn đề quản lý nhà nước đối với các hoạt động dầu khí trong vùng chồng lấn mặc dù không được nói cụ thể trong MOU nhưng về mặt nguyên tắc Việt Nam có quyền thực hiện quản lý nhà nước về hải quan, quản lý cảng xuất dầu và công trình trên biển, quản lý nhà nước về thuế, biên phòng… Tuy nhiên, do vùng biển nằm xa đất liền, không thuận lợi cho việc triển khai tất cả các hoạt động quản lý nêu trên nên Việt Nam có thể uỷ quyền cho phía Malaixia thực hiện các hoạt động kiểm soát đối với các hoạt động dầu khí trong vùng chồng lấn giữa hai nước.

Sau khi thỏa thuận có hiệu lực hai công ty dầu khí quốc gia của hai nước đã ký kết các dàn xếp thương mại và triển khai các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí trong khu vực chồng lấn giữa hai nước.

Trên cơ sở MOU, dàn xếp thương mại bao gồm các nội dung chính sau:

- Petrovietnam và Petronas cùng chịu trách nhiệm, có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau;

- Đồng ý tiếp tục thu các khoản thuế quy định trong hợp đồng đã ký với nhà thầu năm 1989, bao gồm: Thuế tài nguyên, thuế lợi tức, thuế xuất khẩu, khoản trả phụ. Trước đây nhà thầu nộp cho Chính phủ Malaixia thì nay chia đều 50/50 cho Việt Nam và Malaixia;

- Các khoản thu quy định trọng hợp đồng gồm: chia lãi dầu, nộp quỹ nghiên cứu khoa học trước kia nộp cho Petronas thì nay chia 50/50 cho Việt Nam và Malaixia.

Các phần thu cho phía Việt Nam sẽ do Petronas chịu trách nhiệm giao đủ không bị Chính phủ Malaixia đánh thuế.

- Về cơ chế điều hành: Hai bên thành lập Uỷ ban hỗn hợp (Joint Committee) ở cấp cao. Uỷ ban này giải quyết các vấn đề cấp cao và thành lập Uỷ ban điều phối (Coordination Committee). Tuỳ theo nhu cầu của Uỷ ban điều phối có thể thành lập các tiểu ban luật pháp, kinh tế, thương mại, kỹ thuật.

Uỷ ban điều phối có nhiệm vụ cụ thể do Uỷ ban hỗn hợp phê chuẩn là:

+ Xác định phần đóng góp của các bên;

+ Giám sát hoạt động của nhà thầu;

+ Giải quyết việc cung ứng dịch vụ của hai nước.

Hoạt động của hai Uỷ ban theo cơ chế nhất trí. Nếu có bất đồng sẽ giải quyết từ thấp đến cao trên tinh thần hoà giải hữu nghị. Nếu không giải quyết được sẽ đưa ra toà án thương mại quốc tế phân xử.

- Petrovietnam và Petronas cùng nhau thực hiện kiểm toán đối với hoạt động của nhà thầu để xác định quyền lợi.

- Petrovietnam và Petronas cùng thống nhất ra các quyết định trong Uỷ ban điều phối phê chuẩn các kế hoạch công tác, tài chính của Nhà thầu. Mặc dù uỷ nhiệm cho Petronas quản lý nhà thầu qua Uỷ ban điều hành của hợp đồng nhưng Petrovietnam vẫn có quyền tham dự họp Uỷ ban điều hành.

- Nhà thầu gầm năm thành viên là: Công ty HAMILTON Oil Corp (là người điều hành); Công ty Enterprise Oil; Công ty IPL; Công ty NORCEN; Công ty Carigali (công ty con của Petronas).

Sau hai năm triển khai các hoạt động thăm dò, khai thác, đến năm 1997, những thùng dầu đầu tiên khác thác từ vùng chồng lấn đã được xuất khẩu và lợi nhuận bắt đầu được chia đều cho hai bên theo đúng thoả thuận. Hiện nay, các giếng dầu trong vùng khai thác chung này đang tiếp tục hoạt động có hiệu quả.

 

Phần IV. Chủ quyền của Việt Nam trên hai đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm ở giữa Biển Đông. Trong nhiều thế kỷ trước đây hai quần đảo thường được gọi dưới tên chung là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa v.v. Các nhà hàng hải và truyền giáo phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp) gọi dưới các tên Paracels, Parcels hoặc Pracels.

Trên các bản đồ đầu tiên của các nhà hàng hải phương Tây, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thường được vẽ thành một dải liền nhau hình lá cờ đuôi nheo nằm dọc bờ biển nước ta từ khoảng ngang Đà Nẵng tới cuối đồng bằng Nam Bộ. Vào thế kỷ gần đây nhờ sự phát triển của ngành hàng hải và ngành đo đạc bản đồ biển, người ta mới tách ra hai quần đảo riêng biệt mang tên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, trên các bản đồ nước ngoài thường gọi là quần đảo Paracels và quần đảo Sprataly.

1- Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng vĩ độ 15o45 đến 17o15 Bắc; kinh độ 111o đến 113o Đông, án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý. Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá cồn, san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000 km2.

Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm.

Nhóm Phía Đông, gồm khoảng 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước. Lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn rộng trên dưới 1,5 km2, có nhiều cây cối, xung quanh, có những bãi san hô và bãi cát ngầm. Một số đảo khác như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam… có diện tích từ 0,4km2 trở xuống, nhiều đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh.

Nhóm Phía Tây, gồm khoảng 15 hòn đảo nhỏ. Các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Én, Tri Tôn… diện tích khoảng từ 0,5 km2 trở xuống và cao hơn mặt nước từ 4 m đến 6 m.

Trong quần đảo Hoàng Sa, đảo Linh Côn nằm ở ngoài cùng về phía Đông và đảo Tri Tôn nằm ngoài cùng về phía Nam. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo thuộc quần đảo khoảng 10km2. Ngoài các đảo, còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầm nước giữa biển khơi. Có cồn dài tới 30 km, rộng 10 km như cồn Cát Vàng.

Ở phía Đông đảo Hoàng Sa, có một cầu tàu bằng đá và bê tông dài khoảng 180 mét, do một công ty Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đây cho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích. Trên đảo Hoàng Sa còn có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938, đến năm 1947 được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) công nhận và đặt số hiệu 48860 trong mạng lưới khí tượng quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa không có mùa đông lạnh giá, mà mùa hè nóng nực, nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 1 là 230, cao nhất trong tháng 7 là 280. Thời tiết, có thể chia làm hai mùa. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6 mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1170 mm. Từ tháng 6 đến tháng 8, bão thường xuyên đi qua quần đảo này.

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng. Có đảo cây cối um tùm, nhưng có đảo chỉ có các bụi cây nhỏ và cỏ dại. Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam. Nhiều triều Vua trước đây của Việt Nam đã ra lệnh đem các loại cây ra trồng trên các đảo để thuyền bè qua lại dễ nhận, tránh khỏi tai nạn.

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ từ lâu đời bị phong hóa. Qua khảo sát các nhà địa chất Pháp ước tính trữ lượng khoảng gần 10 triệu tấn. Đây là nguồn phân bón có giá trị lớn.

Hải sản ở Hoàng Sa, có nhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi v.v. và một loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế.

2. Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa ở về Phía Đông Nam nước ta trong khoảng vĩ độ 60 30’ đến 120 00’ Bắc; kinh độ 1110 30′ đến 1170 30′ Đông, gồm khoảng hơn một trăm hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 360 hải lý, chiếm một diện tích biển khoảng từ 160.000 đến 180 000km2. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hoà) khoảng 250 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhất cũng khoảng trên 600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý.

Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5 mét. Lớn nhất là đảo Ba Bình rộng khoảng 0,6 km2, sau đó là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn, Vĩnh Viễn, An Bang v.v. Ngoài ra còn nhiều đảo nhỏ và bãi đá ngầm như Sinh Tồn Đông, Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Ken Nan, Đá Lớn, Thuyền Chài. Các đảo ở đây cũng có vành đá san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh tràn lên. Có những vành đai san hô bao quanh dài, rộng hàng chục ki lô mét như đảo Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Lớn. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10 km2 tương đương với quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quần đảo Hoàng Sa.

Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng ngày đêm theo dõi và thông báo các số liệu về thời tiết ở vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khí tượng thế giới và trên một số đảo có đèn biển của Tổng công ty bảo đảm Hàng hải Việt Nam như đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây.

Chất đất trên các đảo của quần đảo Trường Sa là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim lẫn mùn cây có bề dầy từ 5 đến 10 cm. Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như đảo Song Tử Tây, đảo Trường Sa, đảo Song Tử Đông. Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo cỏ dại.

Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loại cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế cao.

Khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn với các vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn. Một số hiện tượng thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền.

Hàng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Có thể chia ra làm 2 mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn vào khoảng hơn 2500 mm. Hiện tượng dông trên vùng biển quần đảo này rất phổ biển, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông và là nơi thường có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa./.

 

Phần V. Phát triển kinh tế biển của Việt Nam: thực trạng và triển vọng

I. Hiện trạng phát triển kinh tế biển

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như của thế giới. Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam. Theo Tuyên bố ngày 12/7/1977 của Chính phủ Việt Nam và Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì nước Việt Nam có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh – quốc phòng nên từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và hải đảo.

Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa, các lĩnh vực kinh tế biển cũng được tăng cường và đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. So với thời kỳ trước, kinh tế biển của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua đã có bước chuyển biến đáng kể. Cơ cấu ngành nghề đang có sự thay đổi lớn. Ngoài các ngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ – kỹ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển – đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… Việc khai thác nguồn lợi biển đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhất là cho xuất khẩu (dầu khí, hải sản…). Kinh tế biển đã được chú ý hơn và các công việc về biển đã làm được nhiều hơn (hoạch định biên giới trên biển, ban hành khung luật pháp, phát triển các hải đảo kết hợp bảo vệ quốc phòng, an ninh trên biển).

Sự phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng là:

1. Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ, hải sản

Đây là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta, với vùng biển có nguồn sinh vật đa dạng, phong phú, trữ lượng hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta khoảng 3,5 – 4,1 triệu tấn, hàng năm có thể khai thác 1,5 – 1,67 triệu tấn, đồng thời có diện tích nuôi lớn, khoảng 76 vạn ha. Trong 10 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, sản lượng thuỷ sản tăng 7,7%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân 5%/năm. Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá. Hệ thống hậu cần nghề cá đã có những chuyển đáng kể, đặc biệt là hệ thống các cảng cá được xây dựng suốt dọc bờ biển. Đã triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản như cấp giấy phép khai thác thuỷ sản; kiểm tra theo dõi giám sát các hoạt động nghề cá trên biển; kiểm tra giám sát an toàn cho người và phương tiện nghề cá trên biển.

Nghề nuôi trồng hải sản đã có bước phát triển khá, tăng nhanh cả diện tích nuôi trồng lẫn sản lượng, ở cả 3 vùng nước lợ, mặn, ngọt (sản lượng nuôi trồng đã tăng 16%/năm). Nuôi trồng hải sản đã góp phần đáng kể vào chuyển đổi mạnh trong cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển; chất lượng và giá trị của sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu ngày càng cao, nhất là tôm, đảm bảo an ninh thực phẩm, đáp ứng nguyên liệu cho chế biến, tạo việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo. Đến năm 2003, sản lượng nuôi trồng đạt 1,1 triệu tấn, gấp 1,9 lần so với năm 1998.

Công nghiệp chế biến hải sản, đặc biệt chế biến xuất khẩu đã làm tốt vai trò mở đường và cầu nối, tạo thị trường để nuôi trồng khai thác hải sản phát triển. Đến nay, đã có 390 nhà máy chế biến thuỷ hải sản, trong đó hàng trăm nhà máy được công nhận đạt tiêu chuẩn, và 60% cơ sở chế biến được công nhận tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành. Năm 2003, xuất khẩu hải sản đạt trên 2 tỷ USD, gấp 3,9 lần năm 1998.

2. Kinh tế hàng hải

Việt Nam đã xây dựng được đội tàu biển quốc gia với tổng trọng tải là 2.322.703 DWT (gấp 2 lần số lượng tàu và 2,3 lần về trọng tải so với 1997, bình quân tăng 6,4% về số lượng và 11% về trọng tải/năm). Nòng cốt của đội tàu biển quốc gia là đội tàu của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES), với số lượng đội tàu trọng tải khoảng 1.125.159 DWT, chiếm khoảng 50% tổng trọng tải của đội tàu quốc gia. Không chỉ tăng năng lực vận tải mà còn có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêm thị trường và trực tiếp tham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sử dụng trên 50% năng lực đội tàu của Việt Nam.

Qui mô cảng ngày càng tăng, cuối năm 1995 nước ta chỉ có hơn 70 cảng biển, thì đến nay Việt Nam đã xây dựng được hệ thống cảng biển gồm hơn 90 cảng lớn nhỏ với 25.617 m cầu bến, trải dài từ Nam chí Bắc; ngoài ra còn có trên 10 khu chuyển tải để tăng cường khả năng thông qua của hàng hoá và tạo điều kiện cho những tàu có trọng tải lớn ra vào cảng dễ dàng, an toàn. Khối lượng hàng hoá qua cảng tăng nhanh, năm 1991 là 17,9 triệu tấn; năm 1995 tổng năng lực thông qua là 52,40 triệu tấn/năm; năm 1999 đạt 63 triệu tấn và đến hết năm 2002, tổng công suất qua cảng của Việt Nam hơn 100 triệu tấn/năm, tốc độ tăng bình quân 17%/năm. Bước đầu hiện đại hoá phương tiện xếp dỡ, qui hoạch và sắp xếp lại kho bãi, xây dựng và nâng cấp thêm các cầu cảng nên năng lực xếp dỡ được nâng cao, giải phóng tàu nhanh. Một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. So sánh với quốc tế, nhìn chung quy mô cảng còn nhỏ nhưng thời gian qua hệ thống cảng biển Việt Nam đã đảm nhiệm thông qua hầu hết lượng hàng ngoại thương của ta và hỗ trợ một phần việc trung chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của Lào, góp phần đưa nước ta từng bước tiếp cận và hội nhập với khu vực và thế giới. Hơn 80% khối lượng hàng xuất nhập khẩu được vận chuyển thông qua hệ thống cảng biển.

3. Công nghiệp tàu biển

Trình độ, năng lực đóng, sửa chữa tàu so với trước đây đã có tiến bộ vượt bậc, hiện đại hoá một bước theo hướng tập trung quy mô lớn, bước đầu có phân công chuyên môn hoá, vươn ra đóng tàu cỡ lớn, chuyên dùng đạt chất lượng đăng kiểm quốc tế. Một số doanh nghiệp đang đầu tư lớn hiện đại để đóng tàu lớn (3 – 5 vạn tấn). Liên doanh Vinashin – Huyndai đã chính thức đi vào hoạt động được 2 ụ tàu có thể sữa chữa tàu từ 50.000 đến 400.000 tấn.

4. Nghề làm muối

Bờ biển dài 3.260 km, đã có 20 tỉnh thành có nghề sản xuất muối biển với tổng diện tích 15.000 ha và trên 80 ngàn lao động nghề muối. Đã sản xuất được bình quân 800 ngàn tấn đến 1,2 triệu tấn/năm. Một số đồng muối ở miền Trung nước ta được đánh giá là muối sạch, ngon của thế giới, có khả năng xuất khẩu với số lượng lớn muối công nghiệp và muối sạch cho tiêu dùng.

5. Công nghiệp dầu khí

Ngành dầu khí là một trong những ngành chủ lực của kinh tế biển, có đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Đã xác định tiềm năng và trữ lượng dầu khí của Việt Nam khoảng 3 – 4 tỷ m3 dầu quy đổi, trong đó 0,9 – 1,2 tỉ m3 dầu và 2100 – 2800 tỷ m3 khí. Năm 2003 đã thác 17,6 triệu tấn dầu thô và 2,17 tỷ m3 khí; xuất khẩu dầu thô đạt 17, 143 triệu tấn. Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn với công suất tối đa 7 tỷ m3 khí/năm đã hoàn thành vào cuối năm 2002, đưa dòng khí đầu tiên vào bờ. Trong giai đoạn 2003 – 2004 cung cấp 2,1 – 2,7 tỷ m3 khí/năm cho các nhà máy điện Phú Mỹ. Đang triển khai xây dựng đường ống dẫn khí Phú Mỹ – Thành phố Hồ Chí Minh với công suất khoảng 2 tỷ m3 khí/năm, hoàn thành vào năm 2004 nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ khí ở miền Đông Nam Bộ.

Hoạt động kinh doanh dịch vụ dầu khí cũng từng bước phát triển theo hướng hiện đại. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành như: dịch vụ căn cứ, dịch vụ tàu thuyền, dịch vụ sửa chữa thiết bị dầu khí, dịch vụ dung dịch khoan, vật tư, hoá phẩm cho khoan, dịch vụ phân tích các loại mẫu, gia công chế tạo, lắp ráp các khối chân đế giàn khoan, xây lắp và bảo dưỡng các công trình biển, xây lắp các đường ống dẫn dầu khí; bảo hiểm dầu khí, cung cấp lao động và dịch vụ sinh hoạt đã được xây dựng.

6. Du lịch biển

Hàng năm, vùng biển thu hút 73% số lượt khách du lịch quốc tế, với tốc động tăng trưởng bình quân khoảng 12,6%/năm. Năm 1997, số lượt khách du lịch quốc tế đến vùng biển đạt 2,1 triệu người, năm 2000 đạt 3,29 triệu người, năm 2002 đã đón khoảng 5,3 triệu lượt người ; riêng năm 2003, do ảnh hưởng của dịch SARS, số khách đạt khoảng 4,7 triệu lượt, giảm so với năm 2002. Khách du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch tăng nhanh, riêng khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng và Huế – Đà Nẵng tăng 41%/năm; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 22,6%.

Đối với khách du lịch nội địa, biển thu hút tới trên 50% số lượt, với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1994 – 2003 là 16%/năm. Năm 1997, toàn vùng đón được 5,7 triệu lượt khách, năm 2000 đón 7,46 triệu lượt, năm 2002 đạt 10, 8 triệu lượt và năm 2003 tới 12,4 triệu lượt khách.

II. Triển vọng phát triển kinh tế biển

Mặc dù kinh tế biển của nước ta đạt được những kết quả bước đầu không nhỏ, nhưng nhìn chung quy mô kinh tế biển của Việt Nam còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp. Nếu so với các nước trên thế giới và khu vực thì Việt Nam còn thấp thua nhiều mặt. Đến nay quy mô kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của nước ta. Xét về giá trị tuyệt đối, giá trị thu được từ hoạt động kinh tế biển của Việt Nam so với giá trị từ hoạt động kinh tế biển của một số nước đều ở mức thấp hoặc rất thấp. Cho đến nay, nghề biển Việt Nam vẫn chủ yếu là nghề truyền thống và ước tính chiếm khoảng trên 60% GDP do kinh tế biển tạo ra. Các nghề mới như khai thác dầu khí, nuôi trồng hải sản đặc sản, du lịch biển đang trong quá trình phát triển bước đầu. Các nghề biển hướng tới tương lai như năng lượng sóng thuỷ triều, dược liệu biển, khai thác khoáng sản dưới lòng nước sâu, hoá chất và dược liệu biển… chưa được nghiên cứu nhiều. Kỹ thuật tổng thể khai thác kinh tế biển vẫn còn ở trình độ rất thấp. Ô nhiễm biển, đặc biệt các vùng biển tập trung tài nguyên, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, vận tải biển và công nghiệp ven bờ… đang gây ra nhiều vấn đề đối với phát triển bền vững. Dịch vụ xây dựng hạ tầng biển và các công trình kỹ thuật khác của biển còn nhiều yếu kém. Tình hình trên đang đặt ra nhu cầu cấp bách phải có một chiến lược phát triển kinh tế biển có căn cứ khoa học vững chắc, đáp ứng những nhiệm vụ tăng tốc phát triển kinh tế trong thời kỳ mới hiện nay.

Việc tập trung vào phát triển kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ bởi thế kỷ XXI mà chúng ta đang bước vào được coi là thế kỷ đại dương, các quốc gia có biển đều nhất loạt hướng về biển để tăng cường tiềm lực kinh tế của mình; mà trên thực tế, biển Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn, trong đó nổi bật lên các lợi thế là:

1. Vị trí chiến lược của biển – nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển. Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhận Bản và các nước trong khu vực, Biển Đông đóng vai trò là chiếc “cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế của thế giới. Sự ra đời của một loạt các nước công nghiệp mới, có nền kinh tế phát triển năng động nhất trong khu vực, những năm gần đây đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, mà trước hết là thông qua vùng biển và ven biển.

2. Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong đó phải kể đến dầu khí, một nguồn tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội nhất của vùng biển Việt Nam. Mặc dù so với nhiều nước, nguồn tài nguyên dầu khí chưa phải là thật lớn, song đối với nước ta nó có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn khởi động nền kinh tế đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Khả năng phát triển cảng và vận tải biển là yếu tố trội cơ bản, là nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Dọc bờ biển đã xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng, trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La – Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Riêng khu vực từ Vũng Tàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng cảng quy mô vừa ở Hòn Chông, Phú Quốc hoặc cảng sông Cần Thơ.

Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai thác tổng hợp để phát triển mạnh. Dọc bờ biển đã xác định khoảng 125 bãi biển lớn và nhỏ thuận lợi cho phát triển du lịch, có dung lượng chứa khách cùng một lúc đến vài trăm ngàn người, trong đó có khoảng 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế. Các bãi biển của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ…, rất thích hợp cho tắm biển và vui chơi giải trí trên biển. Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiên với cảnh quan văn hoá – xã hội của biển, vùng ven biển và các hải đảo cùng với điều kiện thuận lợi về vị trí, địa hình của vùng ven biển đã tạo cho du lịch biển có lợi thế phát triển hơn hẳn so với nhiều loại hình du lịch khác trên đất liền.

Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 1.000 loài có giá trị kinh tế. Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi. Dọc ven biển có trên 37 vạn héc ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn – lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu… Riêng diện tích cho nuôi tôm nước lợ có tới 30 vạn ha. Ngoài ra còn hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển. Với tiềm năng trên trong tương lai có thể phát triển mạnh ngành nuôi trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại với sản lượng hàng chục vạn tấn/ năm.

Các tài nguyên khoáng sản khác (ngoài dầu khí) ven biển cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn ở vùng ven biển là than, sắt, titan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác.

3. Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển. Lao động trong độ tuổi có khỏang 12,8 triệu người, chiếm 35,47% lao động cả nước.

Với tiềm năng sẵn có như trên, việc phát triển kinh tế biển nước ta cần tập trung vào:

- Huy động và phát huy tốt tất cả các nguồn lực để khai thác tối đa mọi tiềm năng và lợi thế nhiều mặt của biển, tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về kinh tế biển, hướng mạnh về xuất khẩu, góp phần tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.

- Tạo bước “nhảy vọt” trong phát triển kinh tế biển. Kết hợp kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và kinh tế hải đảo theo một chương trình liên kết có hiệu quả và hiệu lực cao.

- Phát triển và hiện đại hoá có trọng tâm, trọng điểm và bước đi thích hợp có tính tới hợp tác quốc tế và hội nhập.

- Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng và bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng biển, ven biển và các hải đảo.

Mục tiêu phát triển tổng quát của phát triển kinh tế biển là đảm bảo ổn định và an tòan lãnh hải quốc gia, xây dựng vùng ven biển thành vùng kinh tế phát triển năng động, thúc đẩy các vùng khác trong cả nước phát triển với tốc độ nhanh và tạo môi trường hấp dẫn để thu hút đầu tư nước ngoài.

NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ KINH TẾ THỰC CỦA CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN

Trong 30 năm gần đây, kể từ ngày thống nhất đất nước, các ngành kinh tế biển của Việt Nam đã gặt hái được những thành tựu rất đáng khâm phục. Đặc biệt là kinh tế cảng biển – vận tải hàng hải, đóng tàu… đã mở ra những đột phá ngoạn mục như chuyển tải dầu ở vịnh Vân Phong, Khánh Hòa mới qua 2 năm đã thu cho ngân sách địa phương hơn 969 tỷ đồng, các doanh nghiệp thu lợi cũng không nhỏ. Du lịch, nghỉ dưỡng cũng đang phát triển. Vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất trên hành tinh… Những tôn vinh quốc tế đã nâng tầm vóc của vùng biển, đất nước Việt Nam. Đó là tiền đề cho hợp tác, cho hội nhập trong quá trình khai thác và phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

Nhưng chưa có ai tính được để có vị trí và tầm vóc trên trường quốc tế, để thu được hàng chục tỷ đô la từ biển, môi trường đã phải trả giá như thế nào?

Chúng ta đang đứng trước một thực tế, tuy kinh tế biển có những thành tựu hết sức lớn lao, nhưng so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thì kết quả đó còn khá khiêm tốn so với tiềm năng vùng biển của Việt Nam. Chúng ta có vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, có đường bờ biển dài hơn 11.409 km, có hơn 3 triệu ha đất ngập nước… với các hệ sinh thái điển hình hết sức quý giá. Hệ sinh thái thềm lục địa rộng hơn 450 nghìn km2. Có hơn 180 cửa sông, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ ở ven bờ. Hệ sinh thái rừng ngập mặn đã từng có diện tích hơn 430 nghìn ha (năm 1943). Hệ sinh thái các rạn san hô với tổng diện tích ước tính khoảng 127 nghìn ha. Hệ sinh thái cỏ biển vào khoảng 8 nghìn ha… Đó là những nguồn lợi, tài nguyên vô cùng quý giá.

Một câu hỏi đặt ra: Có thể định giá các nguồn lợi, tài nguyên đó được không? Giá là bao nhiêu?

Đây là bài toán sinh thái kinh tế không đơn giản, nhưng có thể giải được. Tất nhiên là kết quả gần đúng và phải được các chuyên gia, các nhà kinh tế, các nhà quản lý cập nhật, bổ sung và phán quyết trong tình hình cụ thể của địa phương theo tiêu chí phát triển bền vững. Các nhà kinh tế cho rằng, giá trị cụ thể của lượng vật chất khai thác từ biển mà con người vẫn cân, đong, đo, đếm như xưa nay là quá ư nhỏ bé so với giá trị thực của nó. Giá trị chức năng sinh thái của các vùng biển sẽ tạo ra nguồn thu nhập cho con người cao hơn hàng chục lần, nếu không nói đến hàng nghìn lần, so với những gì mà người dân ven biển đang nhặt nhạnh được hàng ngày như hiện nay.

Hiện nay, giá trị kinh tế của các hệ sinh thái được tính là tổng số của các nguồn lợi và tài nguyên không (hoặc chưa sử dụng) gồm: Đa dạng sinh học, du lịch, nghỉ ngơi, khoa học, giáo dục, chức năng sinh thái – bảo vệ và bảo tồn… Vậy 1 ha rừng ngập mặn có giá bao nhiêu? Cách đây hơn 50 năm, các chuyên gia xếp đất rừng ngập mặn thuộc dạng đất hoang và giá trị đất đai không đáng kể. Ngày nay, chỉ với giá trị mặt bằng đã được các chuyên gia định giá khoảng 160 – 530 USD/ha/năm. Các nguồn lợi sử dụng và nuôi hải sản, làm du lịch… đã tăng giá của rừng ngập mặn lên khoảng 95 – 98 nghìn USD/ha/năm. Còn giá trị chức năng sinh thái của hệ rừng ngập mặn có thể nói là vô giá.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Hải dương học trong dự án “Đánh giá giá trị kinh tế – sinh thái của các rạn san hô Đông Nam Á” (Việt Nam, Philíppin, Inđônêxia); kết quả bước đầu, giá trị tính ra đô la Mỹ trên diện tích 1 km2 của hệ sinh thái san hô Hòn Mun tại vịnh Nha Trang (Lưu ý là chỉ tại Hòn Mun, nơi có hệ sinh thái có đa dạng sinh học san hô cao nhất Việt Nam hiện nay là 350 loài), giá trị do khai thác cá là 36,207 nghìn USD, giá trị do thu từ du lịch là 15 nghìn USD, còn giá trị chức năng sinh thái, bảo vệ bờ là 60,145 nghìn. Tổng cộng là 111,352 nghìn USD/km2. Đây là con số gây nhiều ấn tượng nhưng cũng chỉ bằng 37,9% so với tổng thu nhập từ hệ sinh thái rạn san hô ở Maricanban của Philíppin (đạt đến 293,796 nghìn USD). Đây là điều mà tất cả chúng ta phải suy nghĩ.

Điều quan trọng, phải nhận thức là các giá trị kinh tế của các hệ sinh thái ở các vùng khác nhau sẽ có những tiêu chí đánh giá khác nhau. Nó dao động trung bình ít nhất cũng khoảng từ 3 đến 159 lần. Do đó khi nói đến giá trị kinh tế thực của các hệ sinh thái thì phải xác định rõ địa chỉ (không thể đem giá trị sinh thái của Hòn Mun gắn cho vùng khác – ví dụ như vịnh Vân Phong chẳng hạn) và các đối tượng định giá: giá trị hàng hóa hay giá trị chức năng. Điều quan trọng hơn nữa, trong đánh giá kinh tế các hệ sinh thái tự nhiên là phải có nhận thức đầy đủ và có sự quyết đoán dựa vào tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và nhu cầu phát triển bền vững tại địa phương. Có thể tham khảo nhưng không thể rập khuôn hay áp dụng máy móc kết quả tính toán của vùng này cho vùng khác.

TÁC DỤNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN TRONG VIỆC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI Ở VÙNG VEN BIỂN

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm hứng 5 – 8 cơn bão và áp thấp kèm theo mưa lớn; bão thường kết hợp với triều cường gây ra lũ 1ụt. Trước kia ở nhiều địa phương ven biển dù đê chưa được bê tông hoá nhưng mái đê có lớp cỏ và dây leo phủ kín và có các bức tường xanh là các dải rừng ngập mặn (RNM) vững chắc bảo vệ nên đê ít khi bị xói lở hoặc bị vỡ khi mưa bão.

Vào cuối thế kỷ XX, do sự bùng nổ về dân số và yêu cầu xuất khẩu nên phần lớn RNM ở miền Bắc đã bị phá lấy đất trồng cói chế biến hàng xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) và Đông Âu. Ở miền Nam rừng bị khai thác kiệt quệ để lấy gỗ tròn và hầm than xuất khẩu, và làm đầm nuôi tôm. Bên cạnh đó việc phá RNM phòng hộ để sản xuất nông nghiệp, làm nơi đổ xỉ than. xây dựng cảng, khu dân cư, khu du lịch… cũng góp phần đáng kể trong việc huỷ hoại RNM.

Hậu quả của những hoạt động kinh tế vì lợi ích trước mắt hoặc cục bộ đã tạo điều kiện cho thiên tai hoành hành, cuộc sống của cộng đồng ven biển luôn bị đe doạ.

Thực tế đã cho thấy nơi nào phục hồi và bảo vệ tốt RNM thì khi có bão kể cả những cơn bão lớn với tốc độ gió cấp 10, 11, 12 như trong năm 2005 thì đê vẫn an toàn. Trong lúc nơi có phủ bê tông vững chắc nhưng không có RNM như ở Cát Hải, Đồ Sơn, Hải Phòng bị sạt lở nặng, một số đoạn bị vỡ trong cơn bão số 2 năm 2005.

Do đó việc phục hồi các dải RNM, nghiên cứu các loài cây trồng thích hợp để giảm thiểu tác hại do thiên tai là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách.

I. THIỆT HẠI DO THIÊN TAI

l. Các tổn thất do một số cơn bão đầu thế kỷ XI

Trong những năm gần đây, ở một số nước ven bờ các đại dưong đã hứng chịu những cơn bão khủng khiếp như bão Katrina ở Florida (Mỹ), bão Chanchu ở Trung Quốc, bão Damrey ở Việt Nam. Theo thống kê của Ban phòng chống lụt bão và thiên tai Trung ương (CCFSC, 2002) thì thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam năm 2002 là: 335 người chết, 34 người bị

mất tích, 9.802 nhà bị đổ hoặc bị trôi, 46.490 ha lúa bị ngập, 31.283 m3 đê bị xói lở, 462 công trình thuỷ lợi nhỏ bị hỏng hoặc trôi mất.

Năm 2005, 7 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam. Trong đó có 3 cơn bão lớn với sức gió từ 89 đến 133 km/giờ gây ra thiệt hại lớn (bảng 1).

Thống kê các cơn bão và ATNĐ đổ bộ vào Việt Nam theo thời gian (1996 – 2006)

Vùng bờ biển

Thời gian xuất hiện

Tên cơn bão

Cấp bão

Quảng Ninh – Thanh Hoá

03/07/2006

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

28/10/2005

Kaitak (số 8)

Cấp 9 (75 – 88 km/h

Quảng Ninh – Thanh Hoá

19/09/2005

Damrey (số 7)

Cấp 12 (118 – 133 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

15/09/2005

Vicente (số 6)

Cấp 9 (75 – 88 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

11/09/2005

ATNĐ

Cấp 8 (62 – 74 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

09/08/2005

Noname ( số 3)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

28/07/2005

Washi (số 2)

Cấp 10 (98 – 102 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

16/06/2004

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

09/06/2004

Chanchu (số 2)

Cấp 7 (50 – 60 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

12/11/2003

Nepartak (số 7)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

08/09/2003

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

20/08/2003

Krovanh (số 5)

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

16/07/2003

Koni (số 3)

Cấp 9 (75 – 88 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

10/09/2002

Hagupit (số 4)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

29/07/2002

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

05/12/2001

Kajiki (số 9)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

07/11/2001

Lingling (số 8)

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

10/08/2001

Usagi (số 5)

Cấp 8 (62 – 74 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

05/09/2000

Wukong (số 4)

Cấp 10 (89 – 102 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

20/08/2000

Kaemi (số 2)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

29/05/2000

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

14/12/1999

Noname (số 10)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

04/11/1999

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Thuận – Cà Mau

22/10/1999

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

15/10/1999

Eve (số 9)

Cấp 8 ( 62 – 74 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

09/12/1998

Faith (số 8)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

23/11/1998

Elvis (số 6)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

17/11/1998

Dawn (số 5)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Bình Thuận – Cà Mau

11/11/1998

Chip (số 4)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Thuận – Cà Mau

31/10/1997

Linda (số 5)

Cấp 8 (62 – 74 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

02/10/1997

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Trị – Quảng Ngãi

21/09/1997

Fritz (số 4)

Cấp 7 (50 – 61 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

20/08/1997

Zita (số 2)

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Bình Thuận – Cà Mau

07/11/1996

Ernie (số 8)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Bình Định – Ninh Thuận

10/11/1996

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Nghệ An – Quảng Bình

11/09/1996

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

05/09/1996

Sally (số 5)

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

18/08/1996

Niki (số 4)

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

13/08/1996

ATNĐ

Cấp 6 (39 – 49 km/h)

Quảng Ninh – Thanh Hoá

21/07/1996

Frankie (số 2)

Cấp 11 (103 – 117 km/h)

Nguồn: Trung tâm Tư liệu Khí tượng Thuỷ văn, 2006

Bảng 1. Thiệt hại do các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam tháng 9 năm 2005

Loại thiệt hại

Hạng mục

Đơn vị

Bão số 6 (Vincente)

Bão số 7 (Damrey)

Người

Số người chết

Người

14

59

Số người mất tích

Người

6

16

Số hộ phải di dời

Hộ

1.867

32.442

Nhà cửa

Tổng số nhà đổ, trôi

Cái

68

4.746

Tổng số nhà ngập, hư hại

Cái

 

113.523

Số phòng hộ bị hư hại

Phòng

60

157

Bệnh viện, trạm xá đổ, hư hại

Phòng

 

197

Nông nghiệp

Tổng diện tích lúa ngập, hư hại

ha

109.433

240.174

Tổng diện tích hoa màu bị ngập, hư hại

ha

22.678

77.761

Thuỷ lợi

Khối lượng đất đá sạt, trôi, bồi lấp

m3

328.200

1.574.930

Khối lượng đá, bê tông hư hỏng

m3

1.800

253.365

Đê biển vỡ

m

 

1.160

Đê biển sạt, hư hỏng

m

 

76.681

Kênh (mương) sạt lở

m

 

6.420

Số lượng cống dưới đê bị vỡ, trôi

Cái

15

18

Giao thông

Đường bị xói lở mặt

m2

 

62.240

Chiều dài đường bị hư hại

Km

40

268

Cầu, cống sập, trôi

Cái

 

156

Thuỷ sản

Diện tích ao, hồ nuôi tôm cá vỡ, ngập

ha

 

21.984

Tàu thuyền chìm, hư hỏng

Cái

 

65

Đê thuỷ sản sạt lở

m3

 

75.000

Nguồn: Báo cáo hiện trạng thiệt hại của CCFSC ngày 22/9 và 2/10/2005

2. Xói lở ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long

Ở Nam Bộ nói chung và vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long nói riêng ít khi bị bão (trừ cơn bão Linda 1997) nhưng gió mùa đông bắc (gió chướng) kết hợp với triều cường và dòng triều mạnh đã gây ra xói lở nghiêm trọng ở nhiều địa phương. Tình trạng xói lở ngày càng tăng, một phần quan trọng là do rừng phờng hộ ven biển và ven sông nước lợ bị phá để làm đầm tôm nên khi các thuyền máy có công suất lớn hoạt động thì gây xói lở lớn ở hai bờ, đặc biệt là các đê bao (bảng 2).

Bảng 2. Tình trạng xói lở bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long

STT

Tỉnh

Chiều dài đê bị lở (km)

Mức độ năm (m/năm)

Điạ điểm

1

Tiền Giang

42,7

25 – 30

Gia Thuận, Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Điền

2

Bến Tre

29,22

25 – 30

Thừa Đức, Thới Thuận, Bảo Thuận, Tân Thuỷ, An Thuỷ, Thạch Hải

3

Trà Vinh

14,20

15 – 30

Mỹ Long Nam, Hiệp Thạch, Dân Thành

4

Sóc Trăng

18,7

15 – 30

Vĩnh Hải, Vĩnh Tân, lai Hoà

5

Bạc Liêu

6,3

30 – 40

Gành Hoà, Vĩnh Trạch Đông

6

Cà Mau

111,6

30 – 35

Từ Tân Thuận đến Đất Mũi

7

Kiên Giang

87,5

5 – 10

Khánh Tiến (U Minh), Hà Tiên, Hòn Đất, Rạch Giá

Nguồn: Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ – 2006.

II. TÌNH HÌNH PHỤC HỒI RỪNG NGẬP MẶN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

Từ cuối thế kỷ XX do thiên tai ngày càng tăng nên Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến việc trồng rừng phòng hộ ven biển (chương trình 327 và 661); đặc biệt là nhờ sự hỗ trợ đầy thiện chí của một số tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) nên diện tích RNM phòng hộ đã tăng đáng kể. Hơn 100.100 ha rừng trồng đã phát triển tốt ở 16 tỉnh ven biển làm giảm đáng kể các thiệt hại do thiên tai. Các dải RNM có tác dụng làm tăng nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, cung cấp cua giống cho các đầm, nuôi dưỡng tôm, cua bố mẹ và những loài hải sản quan trọng khác. Nhờ có RNM phục hồi mà cuộc sống của cộng đồng ven biển được cải thiện rõ rệt. Ở 8 tỉnh phía Bắc và mũi Cà Mau, nhờ nguồn lợi cua giống mà nhiều gia đình đã vượt qua nghèo đói, một số hộ đã giàu lên nhanh. Cũng nhờ mùn bã của các RNM cung cấp thức ăn cho hải sản mà nghề nuôi vạng, nghêu trên bãi cát trước RNM ở các tỉnh ven biển phát triển mạnh.

Bảng 3. Diện tích RNM trồng ở các tỉnh ven biển Việt Nam

TT

Tỉnh

Diện tích (ha)

TT

Tỉnh

Diện tích (ha)

1

Quảng Ninh

2.006

1

TP Hồ Chí Minh

21.427

2

Hải Phòng

3.052

2

Tiền Giang

1.4220

3

Thái Bình

5.799

3

Bến Tre

3.280

4

Nam Định

2.371

4

Trà Vinh

4.307

5

Ninh Bình

790

5

Sóc Trăng

3.082

6

Thanh Hoá

1.667

6

Bạc Liêu

1.934

7

Nghệ An

1.843

7

Cà Mau

23.305

8

Hà Tĩnh

1.313

8

Kiên Giang

9.718

 

Tổng

18.841

 

Tổng

81.273

Tổng diện tích

100.114 ha

Nguồn: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 2005, Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ 2006.

Sau các cơn bão lớn năm 2005, một số địa phương đã quan tâm nhiều hơn đến việc phục hồi RNM. Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên xây dựng dự án ”Qui hoạch bảo vệ phát triển RNM thời kỳ 2006 – 2015” với vốn đầu tư là 30.794.239 triệu đồng trong đó vốn của Nhà nước: 20.894.239 triệu, vốn vay và tự có là 900 triệu để bảo vệ và trồng lại 23.879 ha RNM phòng hộ và 9.658 ha rừng đặc dụng (Sở NNPTNTQN, 2006; QĐ 3884/QĐ-UBND, ngày 17/10/05 của UBND tỉnh).

Các địa phương ven biển khác cũng rất muốn phục hồi RNM phòng hộ, nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều nơi không còn đất để trồng do phần lớn các hợp đồng thuê đất dài hạn để làm đầm tôm còn có hiệu lực; nhiều hộ không muốn trả lại đất dù năng suất tôm suy giảm hoặc do dịch bệnh đang phải bỏ hoang. Nếu Nhà nước không có biện pháp cương quyết lấy lại đất và tạo điều kiện cho những hộ dân chuyển đổi nghề thì rất khó thực hiện qui hoạch phục hồi, phát triển rừng phòng hộ chắn sóng ven biển.

III. TÁC DỤNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN TRONG VIỆC PHÒNG CHỐNG GIẢM NHẸ THIÊN TAI

Hạn chế xói lở, bảo vệ đất bồi

Hệ thống rễ dày đặc của các loài CNM có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven sông, ven biển và cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng, giữ hoa, lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất. Bên cạnh đó một số loài cây tiên phong như mắm biển, mắm trắng, bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh (Cần Giờ – TPHCM), các bãi bồi ở cửa sông Hồng. Một số đảo nhỏ trên dải ven bờ cũng được nâng cao nhanh nhờ thảm thực vật ngập mặn như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy – Nam Định, Cồn Trong, Cồn Ngoài ở Cửa Ông Trang – Cà Mau.

Kết quả khảo sát của Phân viện Điều tra qui hoạch rừng Nam Bộ (2006) cho thấy diện tích đất bồi ven biển đồng bằng sông Cửu Long khá lớn. Nhiều nơi có RNM phòng hộ thì tốc độ bồi lắng nhanh hơn. Điển hình là việc hình thành 2 hòn đảo nhỏ ở cửa sông Ông Trang. Đảo Cồn Trong hình thành năm 1960, có diện tích là 122 ha. Ban đầu chỉ có mắm trắng, là cây tiên phong đến định cư, tạo môi trường thuận lợi cho các loài khác phát tán vào trong trên đảo. Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu rừng ngập Minh Hải đã có 22 loài cây ngập mặn sinh sống, động vật đáy cũng phong phú. Đảo Cồn Ngoài hình thành muộn hơn, khoảng năm 1980, có diện tích là 149 ha. Đến nay thảm thực vật gồm 2 loài tiên phong là mắm trắng và bần trắng đã phủ kín đảo (T’rung tâm Nghiên cứu rừng ngập Minh Hải, 2003).

Bảng. Tình hình đất bồi ven biển đồng bằng sông Cửu Long

STT

Tỉnh

Chiều dài (km)

Mức độ bồi đắp (m/năm)

Địa phương (xã)

1

Tiền Giang

3.5

15 – 15

Tân Thành

2

Bến Tre

50.50

20 – 30

Thừa Đức, Thới Thuận, Bảo Thuận, Tân Thủy, An Thuỷ, Thạch Hải

3

Trà Vinh

28.4

10 – 60

Mỹ Long Nam, Long Hoa, Trương Long Hoà, Đông Hải (300 – 400m/năm), Vĩnh Long

4

Sóc Trăng

31.3

15 – 45

An Thành Nam (Cù Lao Dung), Trung Bình, Vĩnh Hải (150m/năm), Lạc Hoà

5

Bạc Liêu

34.7

5 – 45

Vĩnh Hậu, Vĩnh Thịnh, Long Điền Đông, Long Điền Tây

6

Cà Mau

67

20 – 200

Đất Mũi, Viên An, Đất Mới, Phú Tân, Phong Lạc, Khánh Hải

7

Kiên Giang

57.8

5 – 15

Hà Tiên, Kiên Lương, An Biên, An Mênh

Nguồn: Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, 2006

Hạn chế xâm nhập mặn

Khi RNM chưa bị tàn phá nhiều thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp vì khi triều cao nước đã lan toả vào trong những khu RNM rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió.

Nhưng trong những năm gần đây, do phá hầu hết RNM ở ven biển để đắp bờ làm ruộng sản xuất cây nông nghiệp, đặc biệt là việc đắp những dãy bờ lớn để làm đầm tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cửa sông. Do đó mà nước mặn theo dòng triều lên, được gió mùa hỗ trợ đã theo các dòng sông vào sâu trong đất liền với tốc độ lớn.

Nước mặn vào sâu kèm theo sóng đã gây ra xói lở bờ sông và cả các chân đê. Mặt khác nước mặn sẽ thẩm thấu qua thân đê vào đồng ruộng khiến cho năng suất bị giảm, tình trạng thiếu nước ngọt đã ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng trong sinh hoạt.

Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ bờ biển, đê biển

Từ đầu thế kỷ trước nhân dân ở các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng một số loài cây ngập mặn như trang (Kahdelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolarls) để bảo vệ đê biển và vùng cửa sông. Mặc dầu thời kỳ đó đê chưa được bê tông hoá và xây kè đá như bây giờ nhưng nhiều đê không bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6 – 8). Đó là nhờ các vành đai rộng RNM chắn sóng, thảm cỏ và dây leo dày đặc trên mái đê bảo vệ cho đê không bị xói lở. Mặt khác thân đê được đắp bằng loại đất thịt và nén chặt, không có tình trạng độn đê bằng cát và cành lá cây.

Từ nửa cuối thế kỷ XX. do dân số vùng biển tăng nhanh, nhu cầu xuất khẩu các hàng hoá bằng cói sang Liên Xô và Đông Âu cao nên nhiều địa phương đã phá RNM để phát triển diện tích trồng cói. Khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước này tan rã, với chủ trương đổi mới, mở rộng quan hệ quốc tế thì các đồng cói được chuyển sang nuôi tôm xuất khẩu và phần lớn diện tích RNM chống sóng còn lại dọc ven biển Việt Nam đã biến thành các loại đầm tôm, đầm cua.

Một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng 327 của Chính phủ và của các NGO thì đê điều, đồng ruộng được bảo vệ tốt. Tháng 9 năm 2000, cơn bão số 4 (Wukong) với sức gió 89 – 102 km/giờ đổ bộ vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nước lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng. Nhân dân thị xã Hà Tĩnh có nhận xét: Nếu không được Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh (SCF-UK) giúp đỡ trồng RNM thì đê Đồng Môn đã bị vỡ và thị xã Hà Tĩnh đã bị ngập sâu, thiệt hại do cơn bão này sẽ khôn lường.

Tháng 7 năm 1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 – 117 km/giờ đổ bộ vào huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình nhờ có các dải RNM rộng nên đê biển, bờ nhiều đầm không bị hỏng. Trong lúc huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên hầu hết các bờ đầm đều bị xói lở hoặc bị vỡ. Năm 2005, vùng ven biển huyện Thái Thuỵ – Thái Bình tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóng cao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 200 m đê nơi không có RNM thôn Tân Bồi xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở xã này không bị sạt lở vì thảm cây dày đặc đã làm giảm mạnh cường độ sóng. Qua khảo sát ở một số địa phương có RNM phòng hộ nguyên vẹn như một số xã ở Đồ Sơn (Hải Phòng), Thái Đô (Thái Bình), Giao Thuỷ (Nam Định), Hậu Lộc (Thanh Hoá) thì ở những nơi này đê biển hầu như không bị sạt lở trong cơn bão số 2, 6 và 7.

Một số kết quả bước đầu ngbiên cứu khả năng làm giảm cường độ sóng của RNM

Đặc điểm diễn biến của các cơn bão

Cơn bão số 2 (Washi ngày 31/7/2005) với sức gió cấp 10 (89 – 102 km/giờ) đổ bộ trực tiếp vào ven biển Hải Phòng trong khoảng thời gian từ 8 h đến 13 h, hướng gió thay đổi liên tục; độ cao sóng ngoài khơi lớn nhất là 2,6 m, mực nước cao nhất là 4,26 m lúc 11 h 30 phút (tại trạm KTTV Hòn Dáu).

Cơn bão số 7 (Damrey ngày 27 và 28/9/2005) với sức gió cấp 12 (118 – 139 km/giờ) đổ bộ vào vùng ven biển Hải Phòng trong khoảng thời gian từ 9 h đến l4 h, hướng gió chủ yếu là đông – đông nam; độ cao sóng ngoài khơi lớn nhất là 3.6 m, mực nước cao nhất là 4.18 m lúc 13 h (tại trạm KTTV Hòn Dáu).

Kết quả đo đạc và tính toán tại khu vực Bàng La (Đồ Sơn)

Các kết quả đo đạc và tính toán hệ số suy giảm giữa độ cao sóng ở trước và sau rừng trang có độ rộng 650 m khu vực Bàng La (Đồ Sơn) trong mấy cơn bão gần đây.

Trong cơn bão số 2, khi vào gần bờ (đới bờ nông), độ cao sóng giảm. Độ cao sóng lớn nhất đo được lúc 13 h cách trước rừng trang 150 m là 1.5 m, sau dải rừng trang rộng 650 m độ cao sóng còn 0.3 m, như vậy hệ số suy giảm độ cao sóng là 80%. Cơn bão số 7, khi vào gần bờ (đới bờ nông), độ cao sóng giảm. Độ cao sóng lớn nhất đo được lúc 12h30 cách trước rừng trang 150 m là 1.4 m, sau dải rừng trang rông 650m độ cao sóng còn 0,2 m, như vậy hệ số suy giảm độ cao sóng là 86%.

Các kết quả tính toán trên cho thấy, đối với rừng trang có độ rộng 650 m, mật độ 182 cây/100 m2, độ phân cành cách gốc từ 45 – 50 cm trở lên, tầng tán dày, độ che phủ đạt 90 – 95% có tác dụng làm giảm tới 80 – 88% độ cao sóng trong bão.

Kết quả đo đạc và tính toán tại khu vực Vinh Quang (Tiên Lãng)

Các kết quả đo đạc và tính toán hệ số suy giảm giữa độ cao sóng ở trước và sau rừng bần có độ rộng 650 m, 920 m và nơi có RNM khu vực Vinh Quang (Tiên Lãng) trong mấy cơn bão gần đây.

Trong cơn bão số 2, độ cao sóng lớn nhất đo được lúc 12 h cách trước rừng bần 100 m là l,6 m. Sau dải rừng bần rộng 920 m và không có rừng độ cao sóng còn 0,4 m. Hệ số suy giảm độ cao sóng sau dải rừng 920 m là 75 – 82%.

Trong cơn bão số 7, độ cao sóng lớn nhất đo được lúc 12 h 30 cách trước rừng bần 100 m là 1.5 m. Sau dải rừng bần rộng 920 mđộ cao sóng còn 0,20 – 035 m. Hệ số suy giảm độ cao sóng sau dải rừng 920 m là 77 – 83%./.

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG PHÒNG TRÁNH BÃO, ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI

ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT XA BỜ

I. Diễn biến của bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ)

Nước ta có vị trí địa lý trải dài trên hơn 15 vĩ độ, có bờ biển dài 3.260 km, nằm gần một trong năm trung tâm bão thế giới, hằng năm nước ta thường chịu ảnh hưởng của trung bình từ 6 – 7 cơn bão và ATNĐ hình thành từ Thái Bình Dương.

Trong 6 năm đầu thế kỷ XXI (từ 2001 – 2006), thiên tai ở nước ta có những diễn biến bất thường, có 27 cơn bão và 11 ATNĐ trực tiếp ảnh hưởng đến vùng biển và đất liền nước ta, trong đó có 14 cơn bão mạnh từ cấp 10 trở lên. Riêng năm 2005 có 9 cơn và năm 2006 có tới 10 cơn bão xuất hiện ở Biển Đông, bão xuất hiện ngày càng nhiều và không còn tuân theo mùa như trước đây (như bão số 9 tháng 12/2005 và số 10, tháng 12/2006) biểu hiện tính bất thường của thời tiết, khí hậu.

Một số cơn bão, ATNĐ gây thiệt hại lớn cho ngư dân và tàu thuyền như:

- Áp thấp nhiệt đới gần bờ năm 1996 xảy ra trên vùng biển Nam Định – Thanh Hoá làm chết hơn 200 ngư dân của tỉnh Thanh Hoá, chìm hàng trăm tàu thuyền đánh cá.

- Cơn bão số 5 (bão Linda) năm 1997 xảy ra trên vùng biển Nam Bộ làm chết và mất tích trên 3.000 người, chìm gần 3.000 tàu thuyền đánh cá.

- Cơn bão số l (Chanchu) năm 2006 xảy ra trên vùng biển ngoài khơi xa, không ảnh hưởng đến vùng biển ven bờ nước ta đã làm chết và mất tích 265 người, chìm hàng chục tàu thuyền đánh bắt xa bờ.

- Riêng cơn bão số 9 năm 2006: 85 người chết, 11 người mất tích, trong đó khoảng hơn 20 người chết và mất tích do chìm tàu thuyền gần bờ, số còn lại chết do đổ nhà trên đất liền. 813 tàu thuyền bị chìm, vỡ khi đã về neo đậu trong bờ.

2. Những kết quả đạt được

Công tác thông tin cảnh báo bão và kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền hoạt động trên biển vào nơi trú tránh bão đã có bước tiến bộ rõ rệt, cụ thể.

Trong đợt đối phó với cơn bão số 2, 6, 7, 8, các tỉnh từ Quảng Ninh đến Phú Yên, nhất là ở các tỉnh Nam Định, Thanh Hoá và TP Hải Phòng đã triển khai một cách quyết liệt và có hiệu quả việc đảm bảo an toàn cho tàu thuyền, ngư dân trên biển và ven biển, không để xảy ra chết người, đắm thuyền. Các địa phương và các lực lượng vũ trang đã sử dụng mọi phương thức kể cả dùng máy bay trực thăng để thông báo và hướng dẫn tàu thuyền về nơi trú tránh. Kết quả đã gọi được trên 82.300 lượt phương tiện với gần 153.000 lượt người đang hoạt động về nơi trú tránh.

Trong bão số 6 năm 2006 đã kêu gọi 63.421 tàu thuyền và 315.149 ngư dân, cơn bão số 9 đã kêu gọi và hướng dẫn 12.876 tàu thuyền với 68.335 ngư dân về nơi trú ẩn, cơn bão số 10 đã kêu gọi 34.427 tàu thuyền với 176.845 ngư dân.

Do có sự phòng tránh tốt nên đã giảm được thiệt hại về người và tàu thuyền hoạt động trên biển như:

Cơn bão số 4 năm 2004 đi vào vùng Nam Biển Đông, qua bán đảo Cà Mau, Kiên Giang vào tháng 11/2005, có đường đi và cấp gió tương tự với cơn bão Linda năm 1997, cơn bão Linda đã làm thiệt hại hơn 3.000 ngư dân và 3.000 tàu thuyền đánh bắt cá bị chìm ngoài khơi, trong khi đó cơn bão số 4 năm 2004 do nắm chắc được dự báo, kịp thời kêu gọi tàu thuyền nên không có người bị chết trên biển, không có tàu thuyền bị đắm ngoài khơi.

Cơn bão số 7 năm 2005 đổ bộ vào vùng biển Bắc bộ và các cơn bão số 6, 7, 8, 9 và số 10 năm 2006 đều có sức gió mạnh trên cấp 12, do phòng tránh tốt nên không có người chết và tàu thuyền bị chìm trên biển.

Riêng cơn bão số l (Chanchu) bị thiệt hại nhiều người do đi vào vùng biển nước bạn không được neo đậu chu đáo, cơn bão số 9, nhiều tàu bị chìm do đã vào bờ nhưng thiếu nơi neo đậu an toàn.

Kết quả trên đã phản ánh sự cố gắng vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đó là :

- Sự chỉ đạo của Chính phủ, Ban chỉ đạo PCLBTW, Uỷ ban QGTKCN và các bộ, ngành đã bám sát vào diễn biến của cơn bão để đưa ra các chỉ đạo cụ thể, chi tiết cho từng thời điểm, hướng dẫn tàu thuyền tránh bão trên từng khu vực. Vì vậy không chỉ đảm bảo cho việc phòng tránh bão, mà còn tiếp tục các hoạt động sản xuất an toàn trên biển.

- Các lực lượng thường trực tìm kiếm cứu nạn đã kịp thời nắm bắt các thông tin tai nạn trên biển, phối hợp xử lý có hiệu quả trong việc cứu hộ tàu và người bị sự cố.

- Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin thường xuyên, góp phần tích cực và quan trọng trong việc giúp nhân dân và chính quyền các cấp chủ động đối phó với bão.

- Cơ quan dự báo khí tượng thuỷ văn đã cập nhật thông tin, tham khảo các dự báo quốc tế về diễn biến của bão.

- Các bộ, các ngành đã phối kết hợp chặt chẽ, theo chức năng, nhiệm vụ đã tổ chức các đoàn đến địa phương cùng chính quyền các cấp chỉ đạo công tác đối phó và khắc phục hậu quả.

- Chính quyền địa phương đã chỉ đạo kịp thời, quyết liệt và chấp hành chỉ đạo của Chính phủ, chủ động thực hiện các phương án phòng tránh, giúp dân đối phó với bão.

3. Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn thành công và không thành công trong công tác phòng tránh bão, ATNĐ chúng ta có thể rút ra một số bài học sau:

- Dự báo, cảnh báo sớm bão và ATNĐ, đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin, tham khảo dự báo của thế giới để hiệu chỉnh các bản tin dự báo đảm bảo tính chính xác và kịp thời là điều kiện tiên quyết đối với công tác chỉ đạo phòng tránh bão, ATNĐ.

- Sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ đã thống nhất và huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các lực lượng cũng như tham gia của người dân vào phòng tránh bão đạt hiệu quả cao.

- Sự chỉ đạo cụ thể và hướng dẫn kỹ thuật phòng tránh cho ngư dân của Ban chỉ đạo PCLBTW và các bộ, ngành là hết sức cần thiết đối với chính quyền địa phương và người dân.

- Những biện pháp chỉ huy kiên quyết cụ thể, chi tiết, chủ động của chính quyền và Ban chỉ huy PCLB các địa phương là yếu tố quyết định đến giảm nhẹ thiệt hại do bão gây ra đối với ngư dân và tàu thuyền của địa phương mình.

- Công tác cứu hộ, cứu nạn phải kết hợp giữa lực lượng cứu hộ của Nhà nước với tự cứu giúp nhau lúc hoạn nạn của ngư dân cùng tham gia đánh bắt trên biển mới mạng lại hiệu quả thiết thực và kịp thời.

- Ý thức chủ động tự phòng tránh của ngư dân chấp hành sự chỉ huy của các cơ quan chức năng sẽ giảm được những thiệt hại đáng tiếc xảy ra.

- Sự hỗ trợ của quốc tế là rất thiết thực, đã góp phần giúp bà con ngư dân trú tránh bão và cứu giúp khi gặp nạn.

4. Một số giải pháp phòng tránh đảm bảo an toàn cho ngư dân

Sự ấm lên của trái đất và biến đổi khí hậu toàn cầu đang có tác động bất lợi đến các hiện tượng thời tiết cực đoan, sự gia tăng các cơn bão nhiệt đới gần đây trong khu vực cũng như ở Việt Nam, đồng thời với sự phát triển nhanh chóng về số lượng tàu thuyền khai thác thuỷ sản trên biển trong đó có số lượng lớn tàu đánh bắt xa bờ trong khi hệ thống thông tin và tổ chức quản lý không theo kịp đang là những thách thức lớn đến sự an toàn của ngành thuỷ sản nước ta.

Để đảm bảo cho khai thác thuỷ sản trên biển an toàn và hiệu quả, trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp sau:

a. Tiếp tục cải tiến và nâng cao độ chính xác công tác dự báo:

Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo áp dụng bản tin dự báo bão thời hạn 48 giờ tiến tới tăng thời hạn dự báo dài hơn vào bản tin tác nghiệp, chi tiết và cụ thể hơn nội dung các bản tin, đồng thời tăng số lần phát bản tin dự báo khi bão đang trên Biển Đông và di chuyển vào bờ để hỗ trợ tốt hơn công tác chỉ đạo và chủ động phòng tránh của nhân dân.

b. Hỗ trợ khả năng ứng phó cho ngư dân đánh bắt thuỷ sản:

- Công tác phát và thu nhận thông tin dự báo, cảnh báo và chỉ đạo ứng phó với bão ATNĐ:

+ Đài Tiếng nói Việt Nam rà soát, kiểm tra và có biện pháp phủ sóng toàn bộ vùng lãnh hải của nước ta và vùng biển quốc tế nơi các tàu đánh cá đang hoạt động (khi thời tiết xấu), tăng thời lượng phát bản tin bão (kể cả tin bão xa) để các tàu đánh cá xa bờ có khả năng nắm bắt thông tin.

+ Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Cục Hàng hải phối hợp với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng khai thác, sử dụng tốt hệ thống thông tin chuyên ngành để phục vụ quản lý tàu thuyền nghề cá tạo điều kiện để ngư dân thông tin hai chiều về đất liền.

+ Bộ Thuỷ sản phối hợp với Bộ Quốc phòng (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng) chỉ đạo việc kiểm tra trang thiết bị thông tin trên tất cả tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ, đảm bảo có thiết bị thông tin và đăng ký ngư trường mớicho ra khơi đánh bắt; tổ chức bộ phận để thu nhận thông tin và quản lý tàu thuyền đánh cá trên biển.

+ Ngoài ra cần xây dựng các trạm thu phát sóng, cột tín hiệu cảnh báo bão, các vị trí bắn pháo hiệu để cảnh báo bão cho tàu thuyền.

c. Tổ chức đánh bắt thuỷ sản:

Bộ Thuỷ sản hướng dẫn tổ chức các tổ đội đánh bắt trên biển một cách có hiệu quả và cứu giúp nhau khi gặp nạn; tuyên truyền, vận động chủ phương tiện đăng ký tham gia bảo hiểm trong đánh bắt xa bờ; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thuyền trưởng bảo đảm có đủ kiến thức kinh nghiệm khi ra khơi.

d. Tăng cường năng lực cho công tác tìm kiếm – cứu nạn xa bờ:

Tăng cường đầu tư nguồn lực; trang bị thêm tàu cứu hộ cứu nạn cho Uỷ ban Quốc gia TKCN đảm bảo đủ công suất để có thể cứu hộ cứu nạn đến vùng biển xa.

e. Xây dựng các khu neo đậu trú tránh bão cho tàu thuyền:

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền theo Quyết định của Chính phủ, phấn đấu đến năm 2010 sẽ xây dựng khoảng 75 trong tổng số 98 khu theo quy hoạch. Tổ chức, tuyên truyền hướng dẫn và tạo điều kiện để ngư dân vào trú tránh bão./.

 

Phần cuối. Một số nhân tố mới về biển

Phát triển kinh tế biển Quảng Ngãi đến năm 2010: nhìn từ các Nghị quyết của Đảng

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVII khẳng định phương hướng phát triển kinh tế thuỷ sản giai đoạn 2005 – 2010 là: Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, dịch vụ biển. Đẩy nhanh công nghiệp khai thác, chế biến hải sản.

Quảng Ngãi có 131 km bờ biển, có vùng đặc quyền kinh tế rộng 60.732 km2, có 6 huyện đảo và ven biển với 47.725 khẩu sinh sống bằng ngư nghiệp, 4 vạn lao động gắn bó với biển. Quảng Ngãi có truyền thống về hoạt động kinh tế biển, về bảo vệ chủ quyền biển đảo qua hàng trăm năm lịch sử. Thế mạnh, khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo của cả nước nói chung và Quảng Ngãi nói riêng đã đặt ra yêu cầu về một tầm nhìn, những giải pháp chiến lược trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.

Tới năm 2010, hướng phát triển toàn diện kinh tế biển đảo của Quảng Ngãi với những nhiệm vụ chủ yếu là:

1. Phát triển kinh tế biển một cách toàn diện, có trọng tâm, phát triển một số mũi có ưu thế truyền thống, sớm đưa ngành kinh tế thuỷ sản thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phát triển kinh tế biển, lấy ngành thuỷ sản, du lịch làm chính. Đẩy mạnh đánh bắt xa bờ đồng thời với nuôi trồng, chế biến thuỷ sản. Tận dụng và phát huy các bến bãi, cầu cảng biển. Chú trọng khai thác cảng biển, phát triển công nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá.

2. Phát triển đồng bộ và có hiệu quả việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Chủ trương của tỉnh là phát triển kinh tế thuỷ sản đồng bộ và bền vững, gắn kết giữa khai thác, nuôi trồng, chế biến và cung ứng dịch vụ thuỷ sản. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị nuôi trồng và chế biến. Chỉ tiêu đến năm 2010, sản lượng khai thác đạt 95.000 tấn, trong đó nuôi trồng 5.500 tấn (riêng sản lượng tôm nuôi là 4.200 tấn).

3. Đẩy mạnh công nghiệp chế biến thuỷ sản, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh sản phẩm thuỷ sản. Thực hiện chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế khu vực này theo hướng đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn công nghiệp chế biến với thị trường. Nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu có sức cạnh tranh cao và hiệu quả kinh tế. Cùng với đẩy mạnh đánh bắt và nuôi trồng là phát triển mạnh cơ sở chế biến thuỷ sản, tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nghề cá, trước hết là cảng cá sa Huỳnh, vũng neo đậu tàu thuyền và dịch vụ nghề cá Lý Sơn, bến neo đậu tàu thuyền Tịnh Hoà, cảng cá Sa Kỳ, Sa Cần…

4. Đặc biệt chú trọng tổ chức những tập đoàn, những đội tàu chuyên đánh bắt xa bờ. Tổ chức dịch vụ cung ứng nghề cá phục vụ chủ trương vươn khơi xa. Tính đến tháng 7/2006, tỉnh ta có 3.896 chiếc tàu thuyền trên 20 CV. Tuy số lượng nhiều nhưng không mạnh, tàu công suất thấp, trang bị lạc hậu, hầu như tác chiến đơn lẻ, thiếu sự liên kết chặt chẽ. Thực trạng đó khiến cho mỗi khi gặp bão lốc bất thường, sự cố va quệt… không có sự ứng cứu kịp thời nên tổn thất nặng. Khâu dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh ta vốn đang là khâu yếu. Hướng tới đóng những con tàu công suất lớn, trang bị hiện đại, đảm bảo hoạt động đánh bắt khơi xa, dài ngày và hiệu quả.

5. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền Biển Đông của Tổ quốc. Tăng cường tuyên truyền nâng cao trình độ pháp luật về biển, Luật biển quốc tế, những quy định bắt buộc đối với ngư dân khi ra khơi. Trang bị cho ngư dân nghiệp vụ thông tin cứu nạn tàu thuyền đánh cá. Tăng cường tuyên truyền về vị trí, tầm quan trọng của thềm lục địa đối với phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai. Ý thức của nhân dân trên một số lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên biển chưa thấu đáo nên hệ quả là hiểu về pháp luật, chấp hành luật trên biển còn yếu, còn vi phạm pháp luật do không có kiến thức khi hoạt động ở vùng đánh cá chung, ở khu phân định trên vịnh Bắc Bộ và không thông hiểu luật pháp quốc tế khi tránh bão ở biển nước ngoài. Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Mỗi ngư dân là tai, là mắt tinh tường trên vùng biển trời của Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ quyền lãnh hải, đi đôi với đấu tranh chống các quan điểm sai trái, kịp thời định hướng dư luận, bác bỏ luận điệu xuyên tạc chống lại các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biển đảo.

6. Biển nước ta rất giàu có. Mỗi người dân cần nêu cao ý thức bảo vệ tài nguyên biển. Ngăn chặn các hành vi huỷ hoại và gây ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ đa dạng sinh học. Thời gian qua, Quảng Ngãi vốn là địa phương trọng điểm tệ nạn sử dụng thuốc nổ đánh bắt thuỷ hải sản. Các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đã tích cực vào cuộc nhưng xem ra chưa có dấu hiệu suy giảm. Trước hết là nhận thức và cùng với nhận thức là các biện pháp ngăn chặn quyết liệt việc sử dụng thuốc nổ đánh bắt cá để giữ cho biển không biến thành biển chết.

DUNG QUẤT: MÔ HÌNH KINH TẾ BIỂN

“Ngay từ khi thai nghén thành lập vào năm 1996, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất ý tưởng hình thành Dung Quất như là một Khu kinh tế tổng hợp. Do mô hình Khu kinh tế là một khái niệm mới tại Việt Nam vào lúc đó, việc hiện thực hoá mô hình này yêu cầu cần một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, và nhất thiết phải được đề cập, quy định và điều chỉnh trong khung pháp lý của Việt Nam. Trong điều kiện như thế, sự phát triển của Dung Quất đã được quyết định theo mô hình pháp lý và khái niệm của một Khu công nghiệp, được điều chỉnh theo Nghị định 36/CP ngày 11/4/1997. Nhưng thực tế phát triển, những đặc thù mang tính chất của “Khu kinh tế” đã được thể hiện trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ khi phê duyệt quy hoạch chung khu công nghiệp Dung Quất”.

Việc chuyển Dung Quất thành khu kinh tế không chỉ đơn giản là sự đổi tên mà thực sự là một bước pháp lý hoá các thể chế về cơ chế quản lý và chính sách phát triển trong điều kiện nền kinh tế hội nhập toàn cầu, đánh dấu những thay đổi căn bản về chất của Dung Quất.

Mô hình “khu trong khu” và vấn đề quản lý nhà nước

Khu kinh tế Dung Quất bao gồm các khu đô thị và cụm dân cư, các khu công nghiệp (công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ), khu cảng nước sâu và đa năng, Khu dịch vụ hậu cần cảng, Khu bảo thuế, các khu du lịch – dịch vụ gần sân bay… Tất cả các “Khu” này có quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, là động lực của nhau và là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Đó là điều kiện quan trọng bậc nhất trong quá trình thu hút đầu tư.

So với khu công nghiệp, khu kinh tế với nhiều đối tượng quản lý khác nhau; bao gồm cả yếu tố doanh nghiệp lẫn các yếu tố khác như đô thị, du lịch, dân cư, cảng biển, tài nguyên… Do đó, không thể vận dụng đầy đủ Nghị định 36/CP cho việc quản lý của khu kinh tế. Về quản lý khu kinh tế, cơ bản phải vận hành trong hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia; đồng thời cần thiết ban hành quy định, các hành lang pháp lý riêng để quản lý các nhân tố Khu trong Khu, tương tự như thẩm quyền của cấp quản lý hành chính lãnh thổ. Ở góc độ hẹp, khu kinh tế thực chất là một địa bàn lãnh thổ thu nhỏ.

Chính vì vậy, việc trao đổi và việc uỷ quyền rộng hơn cho Cơ quan quản lý khu kinh tế nhất thiết phải được thực hiện mạnh mẽ để phù hợp với tính chất đa ngành, đa lĩnh vực của khu kinh tế. Thực trạng phát triển của Dung Quất thời gian qua cho thấy, khi mà việc trao quyền, uỷ quyền quản lý còn bỏ hẹp thì điều tất yếu là có quá nhiều cấp, nhiều ngành tham gia vào quá trình quản lý, nhưng không ai chịu trách nhiệm chính trước những tồn tại và vướng mắc mà các doanh nghiệp đặt ra.

Quản lý nhà nước tại khu kinh tế theo mô hình “khu trong khu” có thuận lợi rõ ràng: Với mục tiêu trọng tâm hướng đến là phát triển công nghiệp – phát triển kinh tế, việc quản lý nhà nước tại khu kinh tế có điều kiện tốt để giải toả sức ép về xã hội và ở một mức độ cao hơn, nó có điều kiện để vận hành và vận dụng các tiện tích xã hội nội khu để phục vụ tốt nhất cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong Khu. Bộ máy quản lý này sẽ có những thẩm quyền đa ngành – đa lĩnh vực nhưng lại có tính chất chuyên biệt và chuyên môn hoá cao, do đó có điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, vấn đề này chưa có tiền lệ tại Việt Nam và đó sẽ là một bất cập nếu như không được nghiên cứu, bám sát thực tiễn để dự báo và đưa ra các giải pháp giải quyết một cách hợp lý.

Với một diện tích lớn so với một khu công nghiệp và tương đối nhỏ so với một đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhưng lại chứa đựng cả yếu tố kinh tế và xã hội. Khu kinh tế Dung Quất với mô hình “khu trong khu” sẽ là một địa điểm rất phù hợp cho việc áp dụng những chính sách thử nghiệm như: Tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp, uỷ quyền quản lý từ Trung ương cho địa phương, sự mở cửa một số lĩnh vực kinh tế hiện nay đang hạn chế đầu tư nước ngoài, một số loại hình kinh doanh chưa từng được áp dụng tại Việt Nam hoặc các vấn đề về thủ tục đầu tư, chế độ tài chính, quản lý xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh và cư trú, thủ tục hải quan… nhằm mục tiêu cải cách nền hành chính và cải thiện mạnh môi trường đầu tư theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Khi tác động trở lại, những chính sách thử nghiệm này sẽ nhanh chóng hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng tính hấp dẫn của khu kinh tế; đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Mô hình “khu trong khu” và tính chất liên kết vùng trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Với một không gian kinh tế có thể được xem là tương đối độc lập và có khả năng “phát triển khép kín”, nhưng khu kinh tế không thể tự tồn tại mà không cần đến một không gian kinh tế lớn hơn để hình thành các thị trường thiết yếu với những quan hệ kinh tế cần thiết. Sự phát triển của khu kinh tế Dung Quất rất cần những điều kiện như:

1. Một thị trường liên kết có quy mô tương đối rộng.

2. Sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ tại chỗ.

3. Sự hình thành và phát triển cảng, sân bay, tuyến Côngtenơ đường biển nội địa và quốc tế, khu trung chuyển hàng hoá của khu vực.

4. Sự phụ thuộc tương đối với 2 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam và sự tác động ảnh hưởng của các khu kinh tế trong vùng.

5. Nguồn nhân lực được đào tạo và đáp ứng ở mức cao.

Như vậy, cho dù nhiều lợi thế và ưu đãi thì từng khu kinh tế phải nằm trong sự điều chỉnh có tính chất quốc gia về quy hoạch, có những quy định pháp lý riêng biệt và phải có sự kết nối liên vùng về hạ tầng, đô thị, dịch vụ và thị trường. Đặc biệt là cơ chế quản lý phải được cởi trói để thật sự đáp ứng cho các nhà đầu tư.

Hiện nay, ở nước ta đang hình thành ngày càng nhiều khu kinh tế. Mỗi khu kinh tế khi thành lập được Thủ tướng Chính phủ ban hành một quy chế riêng. Đó là điều hết sức cần thiết; nhưng quy chế cần giải quyết được 2 vấn đề cơ bản trong quản lý và phát triển là cơ chế quản lý theo hướng trao quyền mạnh mẽ cho cơ quan quản lý khu kinh tế và chính sách cần có sự ưu đãi vượt trội, trong đó, có một số chính sách thí điểm có tính chất thực nghiệm để khu kinh tế mới có thể thật sự trở thành động lực phát triển Vùng.

Cần tăng cường yếu tố liên vùng, trong đó mỗi khu kinh tế vừa là hạt nhân tăng trưởng kinh tế vùng, vừa liên kết, hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Vì vậy, cần thiết phải có sự điều chỉnh lại quy hoạch vùng trọng điểm kinh tế miền Trung; trong đó cần xác định vai trò từng khu kinh tế theo hướng chuyên sâu, vừa xác định những nhân tố mang tính động lực chung, vừa xác định những công trình mang tính sử dụng chung; không nhất thiết khu kinh tế nào cũng có. Chẳng hạn những ngành kinh tế mũi nhọn có lợi thế và hiệu quả hơn; các sân bay, đường cao tốc, cảng biển, các trung tâm đào tạo, các đô thị hạt nhân, các Khu du lịch trọng điểm… Từ đó, xác định những công trình nào có tính chất vùng mà Nhà nước cần tập trung ưu tiên đầu tư và cơ chế huy động mọi nguồn vốn đầu tư, kể cả vốn đầu tư của doanh nghiệp cũng không được để lãng phí vì đầu tư kém hiệu quả.

Theo quy hoạch và định hướng phát triển, khu kinh tế Dung Quất có các ngành công nghiệp lọc dầu – hoá dầu – hoá chất, các ngành công nghiệp có quy mô lớn bao gồm: Công nghiệp cơ khí chế tạo và lắp ráp, đóng sửa tàu biển, luyện – cán thép…; do đó cần đưa vào quy hoạch ngành và vùng trong chiến lược phát triển của quốc gia; đồng thời trong thực tế cần có sự chỉ đạo triển khai thực hiện chiến lược này vào khu kinh tế Dung Quất nhằm khai thác lợi thế tốt nhất về điều kiện tự nhiên, điều kiện hạ tầng; để nâng cao hiệu quả trong đầu tư.

Trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế hiện nay, đã và đang xuất hiện tình hình căng thẳng về nhà ở và các dịch vụ tiện ích cho cán bộ – công nhân lao động. Giải quyết vấn đề này, không chỉ đơn thuần là để đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho người lao động mà bản chất vấn đề là bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững cho các nhà đầu tư khi triển khai dự án đầu tư.

Đi đôi với chính sách đầu tư phát triển các đô thị mới, Nhà nước cần có chính sách đặc biệt ưu đãi về đất, về thuế, về đầu tư hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật – xã hội và dịch vụ dùng chung, về vốn tín dụng ưu đãi dành riêng cho các dự án xây dựng chung cư và nhà ở cho công nhân. Có như vậy, trong một thời gian nhất định mới có thể cải thiện đáng kể vấn đề này tại khu công nghiệp, khu kinh tế.

Trong điều kiện ngân sách nhà nước không thể đáp ứng yêu cầu vốn đầu tư cho những công trình cần thiết, vì mỗi năm ngân sách cấp một vài trăm tỷ đồng (như khu kinh tế Dung Quất hiện nay), trong khi yêu cầu đầu tư phải vài ba ngàn tỷ đồng thì tốc độ phát triển sẽ chậm và không đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của nhà đầu tư. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần sớm cho khu kinh tế một cơ chế tài chính để làm cơ sở huy động tổng lực các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đặc biệt là cơ chế quản lý và cơ chế tài chính sẽ là hai yếu tố quyết định, tạo ra sự thúc đẩy để chính sách ưu đãi đầu tư thật sự được phát huy trong quá trình phát triển của các khu công nghiệp, khu kinh tế; trong đó có khu kinh tế Dung Quất.

NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM VƯƠN LÊN TẦM CAO MỚI

Ngày 29/8/2006, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 198/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam). Theo Quyết định sẽ hình thành Petrovietnam đa sở hữu (trong đó Nhà nước sở hữu chi phối về vốn) trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và các đơn vị thành viên; có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao; kinh doanh đa ngành, trong đó thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối dầu khí là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo; làm nòng cốt để ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả và bảo đảm an ninh năng lượng cho sự phát triển của đất nước.

Về mô hình Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

Cơ cấu Petrovietnam bao gồm: Công ty mẹ – Petrovietnam là công ty Nhà nước; có chức năng ký kết và giám sát việc thực hiện các hợp đồng dầu khí với nước ngoài; thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia về dầu khí; đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác; giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài sản được Nhà nước giao quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường; được hình thành trên cơ sở tổ chức lại bộ máy quản lý, điều hành, tham mưu giúp việc và các ban quản lý dự án của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.

Các tổng công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, trong đó Công ty mẹ do Petrovietnam nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm: Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (được hình thành trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí); Tổng Công ty Khí (được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm khí và các đơn vị sản xuất, kinh doanh bán buôn khí, các xí nghiệp liên doanh, các ban quản lý dự án khí); Tổng Công ty Sản xuất và Kinh doanh điện (thành lập mới khi các nhà máy điện do Petrovietnam làm chủ đầu tư đi vào hoạt động); Tổng Công ty Lọc, hoá dầu (thành lập mới khi các nhà máy lọc, hoá dầu do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư đi vào hoạt động).

Các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Petrovietnam sở hữu 100% vốn điều lệ (thực hiện trong năm 2006 – 2007): Tài chính Dầu khí; Thương mại Dầu khí; Chế biến và Kinh doanh sản phẩm dầu mỏ; Cung ứng và Xuất khẩu lao động dầu khí (thành lập mới).

Các công ty do Petrovietnam nắm giữ trên 50% vốn điều lệ: Các công ty cổ phần: Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí; Công ty cổ phần Dịch vụ du lịch dầu khí; Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí; Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết kế dầu khí; Công ty Xây lắp dầu khí; Công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí.

Các công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2006-2007: Công ty Bảo hiểm dầu khí; Công ty Vận tải dầu khí; Công ty Phân đạm và Hoá chất dầu khí. Các doanh nghiệp liên doanh: Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt – Xô; Công ty liên doanh Dầu khí Mekong. Các doanh nghiệp thành lập mới theo quy định của pháp luật: Công ty cổ phần Bất động sản dầu khí; Công ty cổ phần Chứng khoán dầu khí; Ngân hàng cổ phần Dầu khí.

Các công ty do Petrovietnam nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ: Các công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2006 – 2007: Công ty Kinh doanh khí hoá lỏng miền Bắc; Công ty Kinh doanh khí hoá lỏng miền Nam. Các công ty khác được hình thành theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp khoa học công nghệ: hình thành trên cơ sở tổ chức lại Viện Dầu khí và các đơn vị nghiên cứu trong Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.

Các Cơ sở đào tạo: Trường đào tạo nhân lực dầu khí; Trường Đại học Dầu khí (thành lập khi có đủ điều kiện, hoạt động theo cơ chế kinh doanh).

Ngày 29/8/2006, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ – Petrovietnam trên cơ sở tổ chức lại bộ máy quản lý, điều hành, tham mưu, giúp việc và các ban quản lý dự án của Petrovietnam. Petrovietnam là công ty Nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng, được tự chủ kinh doanh, có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Group. Ngành nghề kinh doanh của Petrovietnam bao gồm: nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển dầu khí, làm dịch vụ về dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí, sản phẩm dầu khí, hóa dầu; kinh doanh, phân phối các sản phẩm dầu, khí, các nguyên liệu hóa phẩm dầu khí; đầu tư, sản xuất, kinh doanh điện; hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm; đào tạo, cung ứng nhân lực dầu khí; xuất khẩu lao động…

Thành tựu của ngành dầu khí Việt Nam

Năm 1981, liên doanh dầu khí quốc tế đầu tiên – Vietsovpetro ra đời và đã phát hiện dòng dầu đầu tiên ở Mỏ Bạch Hổ. Đến tháng 6/1986, tấn dầu thô đầu tiên mới được lấy lên từ lòng đại dương. Vietsovpetro đã khai thác hàng triệu tấn dầu, góp phần đáng kể cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Đến tháng 6/2005, sản lượng dầu thô khai thác được từ 6 mỏ thuộc thềm lục địa của Việt Nam và mỏ MP3, trên vùng chồng lấn với Malaixia đạt 183,89 triệu tấn. Việt Nam đứng vào danh sách các nước xuất khẩu dầu khí và đứng thứ 3 ở ASEAN về sản lượng khai thác dầu thô. 9 năm sau, kể từ khi tấn dầu đầu tiên được khai thác, ngày 26/4/1995, dòng khí đầu tiên được thu gom từ mỏ Bạch Hổ mới đưa được vào bờ theo đường ống dẫn khí dài 160 km để cung cấp cho nhà máy điện Bà Rịa với lưu lượng một triệu m3 khí/ngày.

Tháng 10/1998, đứa con thứ hai của năng lượng khí Việt Nam ra đời: Nhà máy Xử lý khí (LPG) Dinh Cố đưa vào hoạt động đã cung cấp ổn định lưu lượng khí ngày một tăng cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đến cuối năm 2001, lưu lượng 5,7 triệu m3 khí/ngày đêm đã được thu gom đưa vào bờ từ các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rạng Đông. Ngoài 1,5 tỉ m3 khí khô, mỗi năm Vietsovpetro còn cung cấp thêm 350.000 tấn khí hoá lỏng và 130.000 tấn condensat.

Nhiều mỏ có giá trị thương mại đã lần lượt được đưa vào khai thác trong đó có mỏ khí Lan Tây thuộc dự án Nam Côn Sơn được đưa vào bờ thành công đầu tiên năm 2002. Dự án khí Nam Côn Sơn với tổng vốn đầu tư 1,3 tỷ USD là dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất Việt Nam. Doanh thu từ xuất khẩu dầu thô giai đoạn 1991 – 2000 đạt trên 11,6 tỷ USD. Tổng sản lượng khai thác quy dầu đến hết năm 2004 đạt 188,61 triệu tấn, trong đó dầu thô khai thác đạt 169,9 triệu tấn, xuất khẩu trên 166 triệu tấn, doanh thu đạt hơn 30 tỷ USD, vận chuyển vào bờ và cung cấp 18,67 tỷ m3 khí cho sản xuất điện và các hộ tiêu thụ công nghiệp và dân dụng khác. Năm 2005, ngành Dầu khí đã khai thác 18,6 triệu tấn dầu thô và 6,6 tỷ m3 khí. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 7 tỷ USD, tăng hơn mức kỷ lục đã đạt năm 2004 gần 1,33 tỷ USD.

Ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp cho biết: sau 30 năm hình thành và phát triển, ngành Dầu khí Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, đưa nước ta vào danh sách các nước sản xuất dầu khí trên thế giới và đứng hàng thứ 3 ở khu vực Đông Nam á về sản lượng khai thác dầu thô. Đến nay, ngành Dầu khí đã được xây dựng và phát triển tương đối đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác tới chế biến, phân phối và kinh doanh dịch vụ. Từ buổi đầu hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách, đến nay ngành Dầu khí đã tích luỹ được một lượng vốn chủ sở hữu hơn 62.000 tỷ đồng. Trong những năm gần đây, ngành Dầu khí đã duy trì mức đóng góp từ 20 đến 25% tổng thu ngân sách nhà nước, góp phần quan trọng đưa nước ta vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng.

Những năm qua, Petrovietnam đã khởi công xây dựng nhiều công trình dầu khí quan trọng:

* Liên hợp hóa lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa, có công suất chế biến 7 triệu tấn dầu thô/năm, trên diện tích 325 ha và sẽ hoạt động vào năm 2011, với tổng vốn đầu tư 2,488 tỷ USD, riêng giai đoạn 1 khoảng 1,7-1,8 tỷ USD.

* Nhà máy sản xuất đạm Phú Mỹ, tại Khu công nghiệp Phú Mỹ I, huyện Tân Thành (Bà Rịa – Vũng Tàu) với tổng vốn đầu tư 445 triệu USD. Nhà máy sản xuất đạm Phú Mỹ là công trình hoá dầu lớn nhất của Việt Nam được xây dựng trên diện tích 63 ha, công suất 1.350 tấn amôniắc/ngày và 2.200 – 2.400 tấn urê/ngày. Đây cũng là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam sử dụng nguồn khí thiên nhiên từ mỏ Bạch Hổ, Nam Côn Sơn và các bể khác thuộc thềm lục địa phía Nam để sản xuất urê chất lượng cao phục vụ ngành nông nghiệp. Sự ra đời của của Nhà máy sản xuất đạm Phú Mỹ đánh dấu bước phát triển của ngành công nghiệp hóa dầu của Việt Nam.

* Đường ống dẫn khí đốt Nam Côn Sơn dài 399 km, gồm 362 km đường ống ngầm dưới biển và 37 km trên đất liền đưa khí từ các mỏ Lan Tây, Lan Đỏ về Khu công nghiệp Phú Mỹ, huyện Tân Thành (Bà Rịa – Vũng Tàu). Đường ống có vốn đầu tư là 365 triệu USD, công suất vận chuyển 7 tỷ m3 khí/năm, giai đoạn đầu là 2,7 tỷ m3 khí, giai đoạn 2 nâng lên 6 – 6,5 tỷ m3 khí/năm.

* Nhà máy lọc dầu Dung Quất xây dựng tại hai xã Bình Trị và Bình Thuận trong Khu kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Diện tích đất và mặt biển của Nhà máy là 816,03 ha, trong đó: Nhà máy chính 110 ha. Khu bể chứa dầu thô và sản phẩm là 85,83 ha. Tuyến ống dẫn dầu thô, sản phẩm, cấp và xả nước biển 94,46 ha. Bến cảng xây dựng, khu cảng xuất sản phẩm, hệ thống phao rót dầu không bến (SPM), đường ống ngầm dưới biển và khu vực vòng quay tàu 486,04 ha đất và mặt biển. Đường vào Nhà máy lọc dầu, khu nhà ở cho cán bộ, công nhân viên tại Vạn Tường 39,7 ha. Công suất thiết kế 6,5 triệu tấn dầu thô/năm. Tổng mức đầu tư là 2,501 tỷ USD (chưa bao gồm phí tài chính trong thời gian xây dựng). Tiến độ thực hiện: hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành năm 2009.

Tiềm năng phát triển và tình hình đầu tư

Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳng định tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa (trữ lượng khí thiên nhiên có khả năng nhiều hơn dầu). Với trữ lượng đã được thẩm định, nước ta có khả năng tự đáp ứng được nhu cầu về sản lượng dầu khí trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI. Ngành Dầu khí bước đầu đã xác định được nguồn trữ lượng và tiềm năng dầu khí của Việt Nam (khoảng từ 3,8 đến 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi). Trên phần diện tích thềm lục địa có chiều sâu nước biển đến 200 m, đã phát hiện 63 cấu tạo có chứa dầu khí với trữ lượng có thể khai thác được khoảng 825 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó khoảng 425 triệu tấn dầu và 400 tỷ m3 khí. Tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay – Thổ Chu, Vùng Tư Chính – Vũng Mây… đã được xác định là từ 0,9 – 1,2 tỷ m3 dầu và từ 2.100 – 2.800 tỷ m3 khí.

Hiện nay, ngành Dầu khí nước ta đang khai thác dầu khí chủ yếu tại 6 khu mỏ bao gồm: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bunga Kekwa – Cái Nước và chuẩn bị đưa vào khai thác mỏ khí Lan Tây – lô 06.1. Công tác phát triển các mỏ Rạng Đông, Ruby và Emeral, Lan Tây – Lan Đỏ, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Hải Thạch, Rồng Đôi, Kim Long, Ác Quỷ, Cá Voi… đang được triển khai tích cực theo chương trình đã đề ra, đảm bảo duy trì và tăng sản lượng khai thác dầu khí cho những năm tới.

Những phát hiện về dầu khí mới đây ở thềm lục địa phía Nam nước ta đã tăng thêm niềm tin và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư là: lô 09-2, giếng Cá Ngừ Vàng – IX (kết quả thử vỉa thu được 330 tấn dầu và 170.000m3 khí/ngày). Lô 16 – 1, giếng Voi Trắng – IX (kết quả 420 tấn dầu và 22.000m3 khí/ ngày). Lô 15.1, giếng Sư Tử Vàng – 2X (820 tấn dầu) và giếng Sư Tử Đen – 4X (980 tấn dầu/ngày).

Triển khai tìm kiếm thăm dò mở rộng các khu mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng với các giếng R-10, 05- ĐH-10 cho kết quả 650.000 m3 khí ngày đêm và dòng dầu 180 tấn/ngày đêm; Giếng R-10 khoan tầng móng đã cho kết quả 500.000 m3 khí/ngày đêm và 160 tấn Condensate/ngày đêm.

Với nhiều tiềm năng sẵn có, Dầu khí Việt Nam đang trở thành một trong những lĩnh vực đầu tư nước ngoài sôi động. Hiện nay, đã có khoảng 30 hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực tại Việt Nam, với sự góp mặt của hầu hết các tập đoàn dầu khí đứng đầu trên thế giới. Nhiều tập đoàn dầu khí lớn của thế giới đã và đang có kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Hai tập đoàn dầu khí lớn nhất đang hoạt động tại Việt Nam là BP và Conoco Phillips cũng đang xúc tiến các kế hoạch mở rộng hoạt động đầu tư vào lĩnh vực dầu khí Việt Nam.

Ông John C. Mingé, Tổng Giám đốc BP Việt Nam cho biết: BP muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam để có thể triển khai hiệu quả một số dự án mới và mở rộng các dự án hiện có trong 10 năm tới. BP tính toán đầu tư khoảng 1 tỷ USD vào dầu khí Việt Nam. Nguồn vốn này sẽ được đầu tư vào việc nâng công suất khai thác mỏ khí Lan Tây & Lan Đỏ (lô 6.1), phát triển thêm mỏ khí Hải Thạch và Mộc Tinh (lô 5.2 và 5.3) và xây dựng một nhà máy điện tiêu thụ khí tại Nhơn Trạch (Đồng Nai).

Hiện tại BP đang là nhà thầu điều hành dự án khí Nam Côn Sơn (có tổng vốn đầu tư 1,3 tỉ USD) và nắm 35% cổ phần khai thác tại lô 6.1 của dự án này. Lô 6.1 hiện có công suất khai thác là 3 tỉ m3 khí/năm. Ông Mingé cho biết BP đang có kế hoạch đầu tư mở rộng giàn khoan khai thác để nâng công suất khai thác của lô 6.1 thêm 50% so với công suất thiết kế ban đầu vào giữa năm 2007, nhằm tăng sản lượng cung cấp khí thiên nhiên cho các nhà máy điện vào năm 2010. Các đối tác đầu tư của BP tại lô 6.1 là ONGC (ấn Độ) với 45% cổ phần và Petrovietnam với 20% cổ phần. Ngoài ra, BP cũng đang trong quá trình thảo luận để sớm triển khai dự án phát triển lô 5.2 và 5.3, nằm kế bên lô 6.1 với mục tiêu đưa khí vào bờ vào năm 2010.

Tập đoàn Dầu khí Conoco Phillips (Mỹ) (một trong những Tập đoàn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, có tổng vốn đầu tư 1 tỉ USD) cho biết: Trong 10 năm tới, Tập đoàn sẽ đầu tư hơn 1 tỉ USD cho các dự án khai thác dầu tại Việt Nam. Năm 2006, Tập đoàn đã đầu tư khoảng 115 triệu USD để phát triển lô 15.1 bao gồm các mỏ dầu Sư Tử Đen, Sư Tử Trắng, Sư Tử Vàng và Sư Tử Nâu. Hiện tại mỏ Sư Tử Đen có công suất khai thác 70.000 thùng dầu/ngày và là mỏ dầu có công suất khai thác lớn thứ ba tại Việt Nam. Conoco Phillips hiện đang nắm giữ 23,25% cổ phần khai thác tại lô 15.1; 36% tại lô 15.2; 70% tại lô 133 và 134; 50% tại lô 5.3 và 16,33% tại Dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn.

PetroVietnam cho biết: trong thời gian tới sẽ tiếp tục ký kết các hợp đồng đang mời thầu còn lại với các công ty nước ngoài. Trước mắt, PetroVietnam đang chuẩn bị ký một hợp đồng thăm dò lô 06/94 thuộc bể Nam Côn Sơn với tổ hợp nhà thầu Pearl Energy Ltd (Xinhgapo), Serica Energy Group (Canađa) và Lundin Petroleum AB (Thụy Điển).

Phương hướng phát triển trong thời gian tới

Năm 2006, Petrovietnam có kế hoạch khai thác 20,86 triệu tấn dầu thô quy đổi (tăng 1,5 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm 2002). Đây là năm đầu tiên nước ta dự kiến khai thác trên 20 triệu tấn dầu thô quy đổi. Trong đó, có 17,6 triệu tấn dầu thô và 3,7 tỷ m3 khí thiên nhiên. Dự kiến đến năm 2010, ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ 30 – 32 triệu tấn dầu thô quy đổi, nhằm đáp ứng các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp của cả nước.

Bộ Công nghiệp hiện đang cùng các Bộ, ngành liên quan xây dựng và hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành dầu khí đến năm 2015, định hướng đến năm 2025, chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy phạm kỹ thuật về dầu khí, quy hoạch phát triển ngành dầu khí trong tổng thể quy hoạch phát triển ngành năng lượng Việt Nam, đồng thời tích cực tham gia tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách cho dầu khí.

Để ngành dầu khí phát triển bền vững, trong thời gian tới cần:

- Xây dựng Petrovietnam thành một tập đoàn dầu khí mạnh ở khu vực Đông Nam á, có khả năng điều hành các hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến và phân phối dầu khí, gia tăng trữ lượng thu hồi khoảng 250 – 300 triệu tấn quy dầu vào năm 2010, đảm bảo sản lượng khai thác từ 30 – 32 triệu tấn quy dầu vào năm 2010.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ học vấn cao, công nhân kỹ thuật lành nghề. Tiến tới làm chủ công nghệ tìm kiếm, thăm dò tiên tiến của thế giới, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ khoan, khai thác, tăng khả năng thu hồi tại các mỏ đang và sẽ đưa vào khai thác, phát triển các mỏ dầu khí nhỏ hoặc chứa hàm lượng CO2 cao.

- Tiếp tục các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí.

- Đầu tư xây dựng được các cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành như dịch vụ căn cứ; tàu thuyền, sửa chữa thiết bị, khoan, dung dịch khoan, hóa phẩm cho khoan, phân tích mẫu, gia công chế tạo, lắp ráp các khối chân đế giàn khoan – khai thác; xây lắp và bảo dưỡng các công trình biển…

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, giải quyết các vấn đề kỹ thuật phục vụ điều tra cơ bản, xác định tiềm năng dầu khí các khu vực đến nay chưa được nghiên cứu, gia tăng trữ lượng thu hồi và sản lượng khai thác ở các khu mỏ. Nghiên cứu chi tiết cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí ở các vùng nước sâu, xa bờ, các vùng chưa được nghiên cứu đầy đủ và các vùng chồng lấn. Nghiên cứu các giải pháp công nghệ khai thác và bảo dưỡng các công trình dầu khí, tiến tới thực hiện chức năng thẩm định các công trình dầu khí. Chế tạo các tổ hợp sinh hóa phục vụ khai thác, vận chuyển dầu khí đặc thù của Việt Nam.

- Nghiên cứu các dự án về khí, các giải pháp phát triển thị trường khí đốt.

- Nghiên cứu các vấn đề quản lý, kinh tế, tài chính dầu khí.

- Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí.

- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ và đẩy mạnh các hoạt động xã hội.

KIÊN GIANG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Kiên Giang là một trong những vùng biển có tiềm năng rất lớn về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Vì vậy, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ VIII xác định, kinh tế biển sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển của Kiên Giang đến năm 2020.

Tiềm năng

Kiên Giang là tỉnh có vùng biển, hải đảo và ven biển rất đa dạng và phong phú. Vùng biển Kiên Giang với trữ lượng hơn 460 ngàn tấn thủy sản các loại, hằng năm cho phép khai thác trên 200 ngàn tấn. Với hơn 200 km bờ biển cùng hơn một trăm đảo nổi lớn nhỏ, biển Kiên Giang cho khả năng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước mặn cũng như phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề chế biến hải sản.

Khai thác thế mạnh tiềm năng này, trong giai đoạn 2001 – 2005 bình quân hằng năm tốc độ tăng trưởng kinh tế biển của Kiên Giang đạt trên 18%, tỷ trọng kinh tế biển trong GDP toàn tỉnh năm 2006 là 58% (nếu tính cả sản xuất vật liệu thì chiếm đến 70%). Hiện nay, toàn tỉnh có 7.322 tàu đánh cá công suất lớn, 41 cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, trên 100 cơ sở cơ khí; diện tích nuôi trồng đạt 92.230 ha với sản lượng 66.768 tấn. Như vậy riêng về nuôi trồng thủy sản, diện tích đã tăng 33 lần và sản lượng tăng 7,4 lần so với năm 1998. Năm 2006, các cơ sở chế biến hàng thủy sản đông lạnh ước đạt 45.000 tấn, sản phẩm chế biến đạt 23.300 tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 81 triệu USD, tăng trên 4 lần so với năm 1998. Một số ngành như sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ven biển tăng khá; du lịch – dịch vụ kinh tế biển giai đoạn 1998 – 2006 tăng trưởng 12,32%. Đây là tiền đề, tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao mức sống bình quân cho người dân Kiên Giang.

Ông Đinh Văn Lóc, một trong những ngư dân trên 40 năm sống ở xã đảo Hòn Nghệ cho biết, trước đây, do đầu tư cho việc nuôi trồng chưa đúng mức, chủ yếu là khai thác, ngư trường ngày một cạn kiệt, giá nhiên liệu luôn không ổn định cùng với biến động của thị trường là những nguyên nhân khiến gia đình ông cũng như nhiều ngư dân nơi đây rơi vào cảnh nghèo khó. Nhưng từ khi gia đình ông chuyển hướng chú trọng đầu tư cho việc nuôi trồng, chỉ trong vài năm trở lại đây kinh tế gia đình đã có những bước khởi sắc đáng kể. Hiện gia đình ông Lóc đang nuôi một bè cá bóng mú 12 ngàn con. Tính đến nay, bè cá của ông đã được 6 tháng tuổi, khoảng 3 tháng nữa là có thể thu hoạch được. Thông thường loại cá này khi đạt trọng lượng từ 800 g đến 1 kg là có giá nhất, từ 80 ngàn đến trên 100 ngàn đồng/kg. Với số lượng hơn 12 ngàn con, đến khi thu hoạch được, gia đình ông sẽ có thể thu về khoảng 120 triệu đồng.

Kỹ sư Nguyễn Xuân Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Kiên Giang cho biết: Hiện nay nghề nuôi thủy sản trên biển bằng lồng bè đã bước đầu khẳng định được vị thế về kinh tế trong ngư dân tỉnh Kiên Giang. Hiện, mô hình nuôi cá lồng trên biển đã rất phổ biến ở các địa phương vùng hải đảo. Hơn 200 bè đang đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Định hướng chiến lược

Mới đây, tỉnh Kiên Giang đã tổ chức Hội nghị định hướng phát triển kinh tế biển đến năm 2020. Theo Nghị quyết, tỉnh Kiên Giang xác định, mục tiêu phát triển kinh tế biển trong tổng GDP của tỉnh đến năm 2010 là 75%, năm 2015 là 78% và đến năm 2020 phải đạt 80%. Phát triển kinh tế phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân vùng biển, ven biển và hải đảo. Thu nhập bình quân đầu người trong vùng cao gấp 2 lần so với mức thu nhập bình quân chung của tỉnh… Bên cạnh đó, việc xây dựng thương cảng và sân bay quốc tế tầm cỡ khu vực, huy động một số tập đoàn kinh tế mạnh về du lịch, sản xuất điện, công nghiệp đóng tàu… phải được đặc biệt chú trọng nhằm huy động tổng hợp các nguồn lực cùng đầu tư phát triển kinh tế biển.

Phát triển mạnh khai thác nuôi trồng, chế biến thủy sản, phát triển các ngành du lịch biển, Kiên Giang cũng xác định xây dựng Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của vùng hướng mạnh ra biển. Đến năm 2020, Phú Quốc phải trở thành trung tâm giao thương quốc tế, hình thành và phát triển tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây.

Hy vọng với phương hướng đề ra, Kiên Giang sẽ sớm trở thành một vùng phát triển về kinh tế, mạnh về du lịch, đời sống nhân dân ngày càng đi lên trên con đường no ấm.

THỪA THIÊN HUẾ TÀI NGUYÊN BIỂN VÀ VEN BIỂN

Với chiều dài 120 km, biển Thừa Thiên Huế có nhiều chủng loại hải sản, có 500 loài cá trong đó 30 – 40 loài có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá chim, cá thu và các loại hải sản khác. Trữ lượng khai thác trung bình khoảng 30 – 35 nghìn tấn/năm.

Tiềm năng biển và ven biển

1. Tiềm năng biển:

Thừa Thiên Huế là tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ, có chiều dài bờ biển gần 126 km, tiếp cận với ngư trường biển Đông, có tiềm năng to lớn về hải sản, năng suất khai thác hợp lý là 40.000 – 50.000 tấn/năm.

Ngoài ra ngư dân Thừa Thiên Huế có kinh nghiệm trong việc di chuyển ngư trường theo mùa vụ nên hàng năm có thể mở rộng ngư trường khai thác hải sản từ phía biển Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ và ra đến vùng biển Trường sa.

Thừa Thiên Huế còn có hơn 20 km vùng núi đá ven biển từ cửa Lăng Cô đến đảo Sơn Chà là vùng biển đa dạng sinh học khu vực có nhiều thủy sản có giá trị cao như tôm hùm, cá mú … và là nơi có nguồn tôm, cá bố mẹ cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống và rất thuận lợi cho việc bảo tồn phát triển nuôi các đối tượng thủy sản quý như tôm hùm, ngọc trai.

2. Tài nguyên ven biển:

Thế mạnh về du lịch, với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, các di tích lịch sử lâu đời và nền văn hoá truyền thống độc đáo, thể hiện giá trị quan trọng không chỉ của Thừa Thiên Huế nói chung mà còn riêng vùng ven bờ của Tỉnh. Tuy nhiên, vùng ven bờ còn có một giá trị to lớn khác, dễ dàng nhận thấy tại mọi nơi dọc theo bờ biển. Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai kéo dài từ gần ranh giới với Quảng Trị đến vịnh Chân Mây, có tầm quan trọng khu vực và quốc tế, giữ vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nhất là đối với các ngành nông nghiệp và thủy sản, có ý nghĩa lớn trong việc duy trì, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời cũng là vùng xung yếu về môi trường, nhạy cảm về sinh thái, được đặc biệt quan tâm trong Chiến lược này.

Tiếp theo đầm phá Tam Giang- Cầu Hai về phía Nam là vùng hạ lưu sông Bu Lu và vịnh Chân Mây, nơi có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch sinh thái, kết hợp giữa tắm biển, câu cá, du thuyền trên biển, du thám trong những cánh rừng nguyên sơ của núi Vinh Phong, ngắm cánh rừng ngập mặn Bu Lu và tham quan các làng nghề truyền thống.

Vùng ven bờ còn lại của Thừa Thiên Huế là khu vực Lăng Cô – Hòn Sơn Chà, có thế mạnh và tiềm năng lớn về du lịch, đặc biệt khi kết hợp được hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển với tham quan cảnh đẹp tự nhiên của rừng Bạch Mã và đèo Hải Vân. Đây đồng thời là vùng sinh thái giá trị với nguồn tài nguyên thủy sinh phong phú, trong đó có san hô, cỏ biển, rong biển, cùng nhiều loài tôm, cá và sinh vật đáy. Chính sự giàu có về tài nguyên thủy sinh, tính đa dạng sinh học cao của vùng và việc nó đang đối mặt với các tác động tiêu cực của sự khai thác quá mức và hủy diệt là tiền đề cho đề xuất của Tỉnh với Trung ương về việc thành lập khu bảo tồn biển Lăng Cô – Sơn Chà.

a. Đầm phá:

Vực nước hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai được hợp thành từ 3 phần khác nhau theo tên gọi của địa phương là phá Tam Giang rộng 52 km2, đầm Sam và đầm Thủy Tú rộng 60 km2 và đầm Cầu Hai rộng 104 km2. Phá Tam Giang kéo dài 24 km từ cửa sông Ô Lâu tới cửa sông

Hương, rộng trung bình 2,5 km, sâu trung bình 1,6 m, dốc dần về phía cửa sông Hương, đạt độ sâu trên 2 m. Đầm Sam – An Truyền và Thủy Tú – Hà Trung kéo dài từ cửa sông Hương tới cửa sông Truồi, dài khoảng 33 km, độ sâu trung bình 1,5 – 2 m, rộng trung bình 1 km. Đầm Cầu Hai tiếp nối như một lòng chảo lớn hình bán nguyệt dài khoảng 13 km, từ cửa sông Truồi đến chân núi Vĩnh Phong, sâu trung bình 1 – 1,5 m, chỗ sâu nhất tới 3 m ở phía Đá Bạc.

Các đê chắn cát là một hệ thống cồn đụn và bãi cát kéo dài theo phương TB – ĐN từ cửa Việt (Quảng Trị) đến cửa Thuận An, từ cửa Thuận An tới chân núi Linh Thái, rồi từ núi Linh Thái tới cửa Tư Hiền, dài khoảng 102 km. Độ cao lớn nhất đạt tới trên 30 m ở An Lộc, Đông Hải, xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền và giảm dần về phía cửa Thuận An và Tư Hiền. Đoạn từ cửa Việt tới Thuận An rộng trung bình khoảng 4,5 km, đoạn từ Thuận An tới núi Linh Thái rộng trung bình 1,2 km và từ núi Linh Thái rộng trung bình khoảng 300 m.

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có 2 cửa, Thuận An (cửa chính) và Tư Hiền. Đây là yếu tố quyết định đời sống của hệ thống đầm phá trong quá trình phát triển. Hình thái động lực của hai cửa thường xuyên thay đổi phức tạp. Cửa Thuận An dài khoảng 600 m, rộng 350 m, sâu tới 11 m ở phía trong. Cửa Tư Hiền là cửa phụ dài khoảng 100 m, rộng 50 m, và độ sâu thường không quá 1,5 m. Cơn lũ lịch sử tháng 11/1999 đã mở ra cửa biển mới Hòa Duân, cách cửa Thuận An khoảng 1 km. Ngành giao thông đã lấp cửa biển này khôi phục đường giao thông tỉnh lộ 68.

Tổng chiều dài bờ sau của hệ thống đầm phá này vào khoảng 68 km, trong đó gồm 23 km bờ đá gốc granit ở phía đầm Cầu Hai và phần còn lại là bờ tích tụ bao gồm các trầm tích bãi triều, bãi bồi, trầm tích sông biển, trầm tích biển thuộc các vùng cửa sông Ô Lâu, sông Hương, sông Đại Giang…

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai lưu giữ một nguồn gen khá phong phú gồm hơn 600 loài, trong đó có 43 loài rong có thể dùng cho công nghiệp sản xất agar hoặc làm phân bón, 12 loài tôm, 18 loài cua và nhiều loài thân mềm có giá trị khác. Nhiều loài tôm có giá trị thực phẩm cao như tôm sú, tôm lớt, tôm rằn, tôm rảo, trìa, vẹm xanh, ngao…. Hơn 200 loài cá trong đó có đến 23 loài có giá trị thương phẩm cao như cá dầy, cá đối mục, cá dìa, cá mòi cờ chấm, cá sạo chấm, cá dù bạc…

Các nhóm gen cơ bản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai:

STT

Nhóm gen

Số loài

%

Số
giống

%

Số họ

%

1

Thực vật phù du

171

27,98

73

20,85

28

15,21

2

Động vật phù du

37

6,05

24

6,85

16

8,69

3

Thực vật nhỏ đáy

54

8,83

30

8,57

12

6,52

4

Rong

43

7,03

21

6,00

12

6,52

5

Cỏ nước

15

2,45

12

3,43

8

4,35

6

Thực vật cạn

31

5,07

29

8,29

19

10,32

7

Động vật đáy

37

6,05

36

10,28

27

14,67

8

223

36,50

125

35,71

62

33,70

 

Tổng số

611

100

350

100

184

100

Hàng năm, trung bình tại đầm phá Thừa Thiên Huế khai thác xấp xỉ được khoảng 2.500 đến 3.000 tấn thủy sản cá, tôm, cua các loại. Ngoài ra nhân dân còn khai thác vài trăm tấn rau câu và khoảng 15.000 tấn rong tươi làm phân bón cho các đồng ruộng ven đầm và nguồn thức ăn cho nghề nuôi lồng cá trắm cỏ ở vùng phía bắc đầm phá.

Tóm lại, nguồn lợi thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế là món quà vô giá của thiên nhiên ban tặng. Qua quá trình lịch sử lâu dài, dù nguồn lợi đã có suy giảm, điều kiện tự nhiên cho thuỷ sản sinh sống trên đầm phá ngày càng khó đi do việc phát triển một số ngành khác trong vùng lãnh thổ, nhưng giá trị nguồn lợi vẫn còn đó. Xã hội càng hiện đại, nhu cầu thuỷ sản ngày càng lớn, nhất là thuỷ sản đầm phá luôn tươi sống hơn hẳn thuỷ sản biển. Nguồn lợi thuỷ sản đầm phá như một “sân sau” của ngành thuỷ sản Thừa Thiên Huế, nếu tổ chức sản xuất khai thác hợp lý, quản lý tốt thì nó là nguồn lực vô cùng mạnh mẽ cho sự phát triển thuỷ sản.

b. Mặt nước ngọt:

Thừa Thiên Huế có 6 con sông chính và nhiều ao hồ tự nhiên khoảng 5.000 ha rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển, tốc độ tăng bình quân đạt 16%/năm. Đến nay diện tích nuôi tôm toàn tỉnh đạt trên 4000 ha, tăng hơn 2 lần năm 2000, năng suất bình quân nuôi tôm đạt xấp xỉ 1 tấn/ha, gấp 2,5 lần so với 2000; sản lượng tôm nuôi đạt trên 4000 tấn, tăng gấp 5 lần so với năm 2000, góp phần tăng đáng kể nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.

Song song với phát triển nuôi thuỷ sản nước lợ, nuôi thủy sản nước ngọt có bước phát triển mạnh trên địa bàn toàn tỉnh với nhiều hình thức như lồng bè, ao hồ. Đến năm 2005, toàn tỉnh đã phát triển 1300 ha và 2400 lồng bè với sản lượng cá nước ngọt 2500 tấn.

Trước hết nuôi trồng thủy sản có thể thực hiện trên các loại diện tích mặt nước, đặc biệt nuôi tôm sú có thể thực hiện trên các diện tích đất hoang hóa, nhiễm mặn, thậm chí trên vùng đất cát hoang hóa ven biển. Nuôi trồng thủy sản sẽ biến các vùng đất nầy thành diện tích sản xuất có giá trị hàng hóa và lợi nhuận cao.

Toàn tỉnh còn có nhiều diện tích mặt nước đầm phá, đất ven phá nhiễm mặn, ruộng trũng (bàu ô), đất cát hoang hóa ven biển có khả năng chuyển sang nuôi trồng thủy sản một cách thuận lợi.

Đối với vùng ô đầm ruộng trũng trong nội đồng có thuận lợi chuyển sang nuôi các loài thủy sản nước ngọt, ngoài các loài cá nước ngọt truyền thống như trắm,trôi, mè, chép … hiện nay ngành thủy sản đã du nhập và thuần dưỡng các loài có giá trị kinh tế cao như cá rô phi đơn tính, cá chim trắng, cá tra….

Nghề nuôi trồng thủy sản chủ yếu là nuôi tôm đã phát triển hơn 10 năm qua ở vùng đầm phá, thực tế chứng minh điều kiện môi trường nơi đây hoàn toàn có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản với hiệu quả cao và ổn định, đồng thời bảo vệ môi trường, cảnh quan đầm phá.

ĐÀ NẴNG: ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG BIỂN

Một lần nữa, tiềm năng và sự hấp dẫn của biển Đà Nẵng đã được định rõ hơn trên bản đồ thế giới khi được tạp chí uy tín Forbes của Mỹ bình chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Việc khai thác lợi thế du lịch biển đã trở thành lựa chọn đương nhiên của đô thị trẻ bên bờ sông Hàn. Tuy nhiên đến nay, những bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh ấy vẫn còn dừng lại ở tiềm năng.

Sau năm 1471, nước Đại Việt chính thức tiếp nhận vùng đất mới Hàn Thị vào cương thổ của mình, và từ đấy vùng đất mới Hàn Thị nhịp bước đi lên cùng dân tộc Việt trong suốt dặm dài lịch sử. Địa hình thành phố Đà Nẵng khá đa dạng. Một bên là đèo Hải Vân cùng những dãy núi cao, một bên là bán đảo Sơn Trà hoang sơ với những bãi tắm tuyệt đẹp. Chính những ngọn núi chuồi ra biển đã tạo cho những bãi tắm thoai thoải, lặng sóng, với những đường cong uốn khúc duyên dáng bên những mỏm đá trắng nhấp nhô sau những rặng cây rừng, tạo vẻ phóng khoáng và lãng mạn.

Chỉ hơn 40 km đường bờ biển nhưng Đà Nẵng đã sở hữu vô số bãi biển đẹp nổi tiếng như biển Nam Ô, biển Xuân Thiều, biển Thanh Bình, biển Bắc Mỹ An, biển Mỹ Khê, biển Non Nước… và hàng loạt các bãi tắm xinh đẹp và thơ mộng quanh bán đảo Sơn Trà như bãi Tiên Sa, bãi Bụt, bãi Xếp, bãi Nam, bãi Bắc… nối tiếp nhau thành một vòng cung cát trắng mịn màng.

Khó có nơi nào như Đà Nẵng, ở đâu có biển là ở đó cũng có thể làm bãi tắm cho du khách. Cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa và nhiệt độ trung bình quanh năm từ 28-29 độ C, biển Đà Nẵng thích hợp cho du khách tắm biển và nghỉ dưỡng. Đặc biệt, nước biển trong xanh và có nhiều loại hải sản quý để du khách có thể tham gia các loại hình thể thao trên biển như thám hiểm, câu mực về đêm, mô-tô nước, lướt ván…

Vì vậy, cũng không ngạc nhiên khi hãng Goodman Marine International Overseas (G.M.I Overseas), nhà tổ chức đua thuyền chuyên nghiệp thế giới, lại chọn biển Đà Nẵng tổ chức cuộc đua thuyền buồm quốc tế năm nay. Theo đánh giá của hãng G.M.I Overseas, biển Đà Nẵng có bờ biển dài, đẹp, nước trong xanh bốn mùa, ấm và độ sóng êm rất thích hợp để khai thác tổ chức các loại hình du lịch biển, đặc biệt là đua thuyền. Một lần nữa biển Đà Nẵng như hấp dẫn hơn và được thế giới biết đến khi được tạp chí uy tín Forbes của Mỹ bình chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh.

Như vậy, tiềm năng và sự hấp dẫn của biển Đà nẵng đã được định rõ trên bản đồ thế giới. Khai thác lợi thế du lịch biển đã trở thành lựa chọn đương nhiên của đô thị trẻ bên bờ sông Hàn. Từ chân đèo Hải Vân, giờ đây con đường Liên Chiểu -Thuận Phước đã hình thành, mở lối cho một loạt khu du lịch – dân cư vùng biển Nam Ô – Xuân Thiều, Thanh Bình – Thuận Phước từng bước triển khai. Đoạn đầu tuyến đường ven vịnh Đà Nẵng đã quy hoạch trục đô thị mới vùng Tây Bắc, nối kết các khu du lịch Bà Nà, Hòa Bắc, đồng thời tăng cường hướng du lịch nối Hải Vân – Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế). Chặng cuối tuyến đường, thành phố đầu tư hơn 500 tỷ đồng mở cầu Thuận Phước vượt qua cửa sông Hàn nối bán đảo Sơn Trà, nhập với tuyến đường du lịch ven biển Sơn Trà – Điện Ngọc – Hội An. Một loạt khu du lịch sẽ được tạo dựng, nâng cấp từ kế hoạch này, gồm quần thể du lịch báo đảo Sơn Trà, biển Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước… Như vậy, Đà Nẵng đã có thêm một trục giao lưu mới: vành đai đường du lịch biển Hải Vân – Liên Chiểu – Thuận Phước – Sơn Trà – Hội An mở ra những cơ hội phát triển cho những bãi tắm du lịch ven biển.

Tuy nhiên đến nay, những bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh ấy vẫn còn là một tiềm năng để ngỏ chưa được lợi dụng khai thác một cách nghiêm túc và có khoa học. Các dự án khu du lịch triển khai vẫn còn ì ạch, và sự chậm trễ sẽ được biện minh với lý do là đang điều chỉnh lại sơ đồ thiết kế của các nhà đầu tư. Những sự chắp vá như những bản nháp dang dở làm xấu đi những bãi tắm vốn đã hoang sơ và đẹp mỹ miều. Nếu biển chỉ để phục vụ tắm biển thì có lẽ ở đâu trên biển Việt Nam du khách cũng có thể tắm biển được. Vì vậy, cần có một cái nhìn đúng đắn hơn để đầu tư và khai thác có hiệu quả, đồng thời tôn vinh và bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú của biển ban tặng.

Mặc dù đã gần một năm được Tạp chí Forbes bình chọn là một trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh, nhưng đến nay hình ảnh du lịch biển Đà Nẵng vẫn còn xa lạ với du khách trong và ngoài nước. Thật khó để một du khách nước ngoài hay bất kỳ người dân địa phương nào muốn có một cuốn sách hay bất cứ một tài liệu gì giới thiệu đầy đủ về du lịch biển Đà Nẵng. Điều này chứng tỏ việc tuyên truyền, quảng bá về biển Đà Nẵng vẫn còn mờ nhạt.

Phú Quốc trên lộ trình trở thành một trung tâm kinh tế - du lịch sinh thái chất lượng cao

Ngạc nhiên và ngưỡng mộ là cảm xúc của khách du lịch khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp, tiềm năng của Phú Quốc. Biến Phú Quốc thành trung tâm kinh tế – du lịch chất lượng cao đang là mục tiêu và hành động của Đảng bộ và nhân dân huyện đảo.

Hòn đảo ngọc

Phú Quốc là quần thể quy tụ 22 hòn đảo lớn, nhỏ, có diện tích 598 km2, với 150 km đường bờ biển trải dài, những bãi biển gần như còn giữ được nét đẹp ban sơ của tạo hóa: Bãi Dương Đông, Bãi Sao, Bãi Khem, Bãi Trường…; cùng nhiều loại hải sản phong phú, đa dạng, có loại thuộc giống loài quý hiếm, các hệ sinh thái san hô và thảm cỏ biển. Hiện nơi đây còn hơn 37 nghìn héc-ta rừng tự nhiên với mật độ che phủ lên đến 61%, gần 100 ngọn núi, đồi…

Phú Quốc có vị trí rất thuận lợi cho giao thương, du lịch với các nước trong khu vực bằng đường biển và đường hàng không. Phú Quốc chỉ cách vùng phát triển công nghiệp, du lịch phía Đông Nam Thái Lan 500 km, cách malaixia 700 km và Xinhgapo khoảng 1.000 km…, nơi đây có thể trở thành một trung tâm trung chuyển lớn của đường hàng hải và hàng không quốc tế.

Với vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của thiên nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, Phú Quốc giống như một hòn đảo ngọc tiềm ẩn những giá trị vô cùng quý báu. Nếu biết khai thác, tận dụng hợp lý, trong tương lai không xa Phú Quốc sẽ trở thành trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch sinh thái chất lượng cao có sức hấp dẫn lớn.

Những bước chuyển mình

Phú Quốc của quá khứ giống như một nơi biệt xứ, gắn liền với sự nghèo khó. Nhưng Phú Quốc cũng chính là nơi ý chí, lòng quả cảm của con người Việt Nam được thể hiện rõ nhất. Trong chiến tranh, nhà tù Phú Quốc là lò lửa tôi luyện ý chí cách mạng. Trong thời bình, ý chí ấy thể hiện vào quá trình xây dựng Phú Quốc trở thành một trung tâm kinh tế lớn. Cùng với quá trình đổi mới và phát triển của đất nước, của tỉnh Kiên Giang, huyện đảo Phú Quốc cũng có những bước chuyển mình mạnh mẽ để phát triển trong những năm gần đây.

Trước năm 1975, dân số trên đảo chỉ hơn 5.000 người. Hiện nay Phú Quốc có gần 85 nghìn người. Trong giai đoạn từ năm 2001 – 2005, GDP của Phú Quốc tăng trưởng bình quân hằng năm là 12,6%, thu nhập bình quân đầu người đạt 620 nghìn đồng/tháng, số hộ nghèo giảm xuống chỉ còn hơn 6%. Phú Quốc phát triển một cơ cấu ngành kinh tế đa dạng, trong đó du lịch là mũi nhọn. Huyện đảo đã được đầu tư trở thành một khu du lịch sinh thái biển thu hút mỗi năm hàng trăm ngàn lượt khách. Hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng cấp, đặc biệt về giao thông với việc đưa vào sử dụng tuyến bay ra đảo tạo thuận lợi rất lớn cho khách du lịch.

Phú Quốc hiện có hơn 150 nhà đầu tư trong và ngoài nước gửi dự án và hồ sơ xin đăng ký đầu tư, 46 dự án đầu tư trên 2.000 ha đã được phê duyệt. Nhiều dự án có quy mô rất lớn như: Dự án xây dựng sân bay quốc tế Dương Tơ có tổng mức vốn đầu tư dự kiến 2.500 tỉ đồng, Dự án đầu tư khu du lịch giải trí cao cấp có trường đua ô tô quy mô 1.000 ha, có tổng vốn 1 tỉ USD của Tập đoàn Rốckingham (Mỹ), Dự án đầu tư cảng biển du lịch, nhà ở cao cấp của Tập đoàn Automind Capital (Canađa) có tổng vốn 130 triệu USD… Những dự án này trong tương lai gần sẽ tạo cho Phú Quốc sự phát triển mới nhanh và mạnh mẽ. Hòn đảo đang chuyển mình, “thay da, đổi thịt” hằng ngày, mang trong mình sức sống của một thành phố trẻ, một trung tâm du lịch phát triển.

Tuy nhiên, Phú Quốc cũng phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Đó là nguy cơ phá vỡ cảnh quan, nếu quy hoạch hòn đảo không khoa học, làm mất đi nét hoang sơ, kỳ vĩ của thiên nhiên, biển trời, núi rừng nơi đây, vốn được coi như phần “hồn” của Phú Quốc. Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật vẫn còn yếu kém, thiếu nguồn nhân lực có trình độ, vấn đề di dân tự do, nguy cơ cháy rừng… và việc khôi phục lòng tin của nhân dân vào Đảng bộ, chính quyền sau những tiêu cực về vấn đề đất đai xảy ra vừa qua.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38-QĐ/TTg, ngày 14-2-2006, về Quy chế tổ chức và hoạt động của huyện đảo Phú Quốc và quần đảo Nam An Thái, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, đồng thời cũng nâng tầm nhìn của Phú Quốc dần hướng vào tương lai đầy triển vọng của sự phát triển bền vững và ổn định.

Tầm nhìn hướng tới tương lai

Sự phát triển của Phú Quốc trước hết phải hướng tới một số mục tiêu mang tính tổng thể:

+ Phải kiên quyết bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên;

+ Phát triển Phú Quốc phải có lộ trình, bước đi thích hợp nhằm bảo đảm sự ổn định và bền vững;

+ Phấn đấu thực hiện mục tiêu phát triển Phú Quốc đến năm 2010 thu hút được 300 – 350 ngàn lượt khách du lịch, giải quyết đáng kể việc làm, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân, giữ mật độ dân số đảo khoảng 150 ngàn người;

+ Đến năm 2020 sẽ hoàn thành cơ bản việc xây dựng đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao mang tầm cỡ quốc tế, một thành phố biển du lịch hiện đại, hằng năm thu hút từ 2 – 3 triệu lượt khách du lịch. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở mức cao, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, mật độ dân số khoảng 230 ngàn người.

Để đạt được những mục tiêu trên, Phú Quốc cần đi theo những định hướng phát triển sau:

Thứ nhất, tập trung phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế chủ yếu, với các loại hình đa dạng như: du lịch tắm biển gắn với thể thao dưới nước; công viên hải dương; du lịch sinh thái (tham quan du lịch quanh đảo và các đảo nhỏ, nghiên cứu về các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa, câu cá, câu mực…); du lịch thể thao (thể thao biển, leo núi); du lịch vui chơi giải trí, đặc biệt là các hình thức vui chơi giải trí cao cấp như chơi gôn, cá cược, đua ngựa, đua chó… và du lịch gắn với các hội nghị, hội thảo (du lịch MiCE)… Từ năm 2011 – 2020 sẽ tiếp tục mở rộng, hoàn chỉnh các khu du lịch, nâng tổng diện tích phát triển khu du lịch lên khoảng 3.800 ha và đầu tư toàn diện khu vui chơi giải trí trên đảo khoảng 1.000 ha.

Thứ hai, phát triển các ngành nghề theo định hướng phục vụ du lịch. Quy hoạch và đầu tư hai khu phi thuế quan gắn với cảng biển quốc tế An Thới và sân bay quốc tế Phú Quốc, phục vụ cho các hoạt động: sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu và hàng phục vụ tại chỗ; thương mại hóa và thương mại dịch vụ như kho ngoại quan và tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vui chơi, giải trí, nhà hàng; hoạt động xúc tiến thương mại… Nông nghiệp được phát triển chủ yếu theo hướng sạch, chất lượng cao phục vụ du lịch. Giữ diện tích đất nông nghiệp ổn định đến năm 2020 là 4.600 ha, chủ yếu cho bảo tồn, phát triển nâng cao năng suất, chất lượng cây tiêu, trồng cây ăn trái đặc sản, trồng rau sạch, trồng hoa, cây cảnh. Lâm nghiệp được phát triển theo hướng đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên rừng phục vụ du lịch sinh thái. Để bảo đảm phát triển bền vững, sẽ giữ vững diện tích rừng Phú Quốc ổn định khoảng 37 ngàn ha; bảo vệ, quản lý cho bằng được khu bảo tồn quốc gia, xem đây là sự sống còn của Phú Quốc. Nghiên cứu di thực các loài cây có giá trị bảo tồn và tạo cảnh từ các miền đất nước và từ nước ngoài đến Phú Quốc để làm giàu thêm vốn rừng và tăng thêm giá trị cảnh quan ở các khu du lịch, khu đô thị trên đảo.

Ngành thủy sản phát triển theo hướng khai thác và kết hợp với nuôi trồng các loại thủy đặc sản như trai ngọc, cá lồng… vừa phục vụ du lịch, vừa cho xuất khẩu. Nhiệm vụ quan trọng là phải sắp xếp lại các làng chài, chế biến thủy sản các loại và chuyển mạnh sang nuôi trồng, sản xuất giống các loại thủy sản có giá trị và nuôi cá cảnh xuất khẩu. Quy hoạch và đầu tư một số khu bảo tồn biển ở phía bắc đảo Phú Quốc và cụm đảo nam An Thới để giữ gìn các đảo san hô, thảm cỏ biển và các loài thủy sản quý hiếm như dugong (bò biển), rùa biển… Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được phát triển chủ yếu là công nghiệp thực phẩm và đồ uống, sản xuất hàng tiêu dùng, đồ trang sức và lưu niệm; công nghiệp phục vụ vận tải thủy và đánh bắt thủy sản; chế biến nước mắm. Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp và làng nghề truyền thống đặc trưng của Phú Quốc có quy mô khoảng 100 – 150 ha, chủ yếu phục vụ bảo tồn, phát triển nghề sản xuất nước mắm truyền thống và phát triển một số sản phẩm công nghiệp sạch, công nghệ cao.

Từ nay đến năm 2010 sẽ chỉnh trang các khu đô thị hiện có trên đảo, đồng thời hình thành các khu đô thị mới có diện tích 1.100 – 1.200 ha, có 60 – 80 nghìn dân sinh sống; và từ năm 2010 – 2020 mở rộng, hoàn chỉnh các khu đô thị trên đảo với diện tích 2.300 ha cho 160 – 180 nghìn dân sinh sống.

Thứ ba, hệ thống kết cấu hạ tầng trên đảo được quy hoạch đầu tư phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đảo, phục vụ cho phát triển du lịch, dịch vụ. Từ nay đến năm 2010, tập trung đầu tư phát triển các công trình thiết yếu của đảo như mạng lưới giao thông đường bộ trên đảo, các cảng biển, sân bay quốc tế, nguồn cung cấp điện ổn định, các hồ nước ngọt, mạng lưới thông tin liên lạc, bệnh viện, trường dạy nghề… Giai đoạn 2011 – 2015 sẽ tiếp tục đầu tư cơ bản hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng của đảo Phú Quốc. Nguồn vốn đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng trên đảo Phú Quốc sẽ huy động tổng hợp từ ngân sách Trung ương, địa phương, nguồn vốn từ quỹ đất, vốn ODA, vốn đầu tư trong nước và nước ngoài theo các hình thức BOT, BTO, BT hoặc phát hành trái phiếu công trình.

Phú Quốc tự tin, mạnh mẽ vươn tầm nhìn của mình hướng vào tương lai, phấn đấu trở thành một thành phố bề thế, một trung tâm kinh tế – du lịch sinh thái chất lượng cao./.

Hết

____________________________
Bullet  
Bullet  
Bullet  
Bullet  
Bullet  
Bullet  
CƠN MƠ BIỂN
Bullet  
Bullet  
 

Nhà lãnh đạo Đỗ Mười và vấn đề bảo vệ biển đảo Việt Nam

Thanh Niên giới thiệu bài viết của nguyên Phó trưởng ban Ban Biên giới Chính phủ Hoàng Trọng Lập nhân 49 ngày nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười từ trần về những dấu ấn của nguyên Tổng bí thư trong bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Biển Đông nhìn từ các bên không tuyên bố chủ quyền
Tiếp quản và làm chủ biển đảo Tổ quốc trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975
Toàn cảnh chiến dịch CQ-88: Phá âm mưu cướp đoạt Trường Sa
Trung Quốc sử dụng có chiến lược kinh phí khoa học cho nghiên cứu về Luật quốc tế

Trong số nhiều chủ đề được chính phủ Trung Quốc tài trợ và khuyến khích, đứng đầu là luật kinh tế quốc tế, thứ hai là các vấn đề liên quan tới luật biển và thứ ba là luật môi trường quốc tế. Và Trung Quốc thường khuyến khích các học giả phát triển cách tiếp cận theo hướng chủ nghĩa dân tộc.
Toàn cảnh Biển Đông năm 2016, dự báo cho năm 2017: Phán quyết từ PCA - Bước ngoặt trong tranh chấp Biển Đông
Thông cáo báo chí Bế mạc Hội thảo Quốc tế lần thứ VIII về Biển Đông
Học giả phản đối Trung Quốc làm phức tạp tình hình Biển Đông
 

 

Dự án thông tin về Biển Đông của Vietnam Bussines Consulting
Email: vnsea@mail.ru
Ghi rõ nguồn www.vnsea.net khi phát hành lại thông tin từ website này
Информационный портал VBC об Южно-Китайском море.
Copyright © 2012 Vnsea. Все права защищены.